Chế tài hành vi sử dụng giấy tờ, bằng cấp giả

SGGP
Với sự hỗ trợ của các công cụ, máy móc hiện đại, việc làm giả các giấy tờ, bằng cấp ngày càng tinh vi, nên có nhiều người sử dụng các giấy tờ, bằng cấp giả. Hành vi này sẽ bị xử lý thế nào?

Trong quy định của pháp luật hiện hành, không có định nghĩa cụ thể về việc thế nào là giấy tờ giả. Tuy nhiên, có thể hiểu giấy tờ giả tức là những giấy tờ không được làm ra theo đúng quy trình, trình tự, thủ tục, tiêu chuẩn mà pháp luật quy định, không do cơ quan có thẩm quyền cấp một cách hợp pháp, mà được làm ra với bề ngoài giống như thật, nhằm mục đích lừa các cơ quan, tổ chức khác để phục vụ các mục đích của cá nhân đó. 

Hiện nay, pháp luật hiện hành không quy định một mức xử phạt hành chính chung đối với việc sử dụng các giấy tờ, bằng cấp giả. Người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính theo từng lĩnh vực cụ thể, phụ thuộc vào loại giấy tờ giả mà họ sử dụng. Khoản 3, Điều 16 Nghị định 138/2013/NĐ-CP quy định phạt tiền 10 - 20 triệu đồng đối với hành vi mua bán, sử dụng văn bằng, chứng chỉ giả. Ngoài ra, sẽ phạt bổ sung là tịch thu tang vật và phương tiện vi phạm hành chính. Đối với các hành vi mua bán, sử dụng văn bằng, chứng chỉ giả mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, theo quy định tại khoản 4, Điều 17 Nghị định 79/2015/NĐ-CP, người vi phạm sẽ bị phạt tiền 7 - 10 triệu đồng. 

Theo quy định tại khoản 3, Điều 9 Nghị định 167/2013/NĐ-CP, hành vi sử dụng chứng minh nhân dân giả sẽ bị phạt tiền 2 - 4 triệu đồng. Đối với những cá nhân là công chức, viên chức, nếu có hành vi sử dụng bằng cấp, chứng chỉ giả, có thể bị xử lý kỷ luật theo các hình thức kỷ luật như cảnh cáo, cách chức, buộc thôi việc. Người sử dụng chứng chỉ, bằng cấp giả nhằm thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015.

Theo đó, các cá nhân có hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, bị phạt tiền 30 - 100 triệu đồng, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm, hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 2 năm.

Luật sư VÕ TRUNG TÍN, Văn phòng Luật sư Phan law Vietnam

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Nhân viên trật tự đô thị có quyền thu giữ giấy phép lái xe?

Nhân viên trật tự đô thị có quyền thu giữ giấy phép lái xe?

Luật sư Nguyễn Chính Hạnh (Đoàn Luật sư TPPHCM) cho biết, theo quy định hiện hành, đội quản lý trật tự đô thị thuộc phòng quản lý đô thị có chức năng, nhiệm vụ thực hiện các việc liên quan đến trật tự đô thị và vệ sinh môi trường chứ không thể làm thay công việc của lực lượng công an.

Bạn đọc viết

Cần đồng bộ các loại thẻ Covid

Sau ngày 15-9, TPHCM dự kiến từng bước nới lỏng giãn cách xã hội theo từng giai đoạn, dần chuyển sang trạng thái bình thường mới, thích nghi an toàn với dịch Covid- 19. Các biện pháp được đưa ra là thí điểm cấp “thẻ xanh” Covid, “thẻ vàng” Covid cho người dân.

Cơ quan trả lời

UBND quận 4 đã chỉ đạo xử lý hành vi vi phạm phòng chống dịch Covid-19

Báo SGGP số ra ngày 16-9-2021, trong mục Luật sư của bạn có đăng thông tin “Nhân viên trật tự đô thị có quyền thu giữ giấy phép lái xe?” phản ánh việc nhân viên Đội Quản lý trật tự đô thị (Phòng Quản lý đô thị quận 4) kiểm tra, lập biên bản đối với lái xe Lý Xẹc Diểng khi đang vận chuyển hàng từ thiện do vi phạm hành chính về lĩnh vực y tế và đã thu giữ một số giấy tờ cá nhân của ông Diểng. 

Từ thư bạn đọc

Khó khăn khi mua thuốc trong khu vực phong tỏa

Qua đường dây nóng Báo SGGP, ông Nguyễn Quang Hợp (71 tuổi), ngụ hẻm 566/111 đường Nguyễn Thái Sơn, phường 5, quận Gò Vấp phản ánh ông bị bệnh tiểu đường phải uống thuốc đều đặn mỗi ngày, tuy nhiên khu vực nơi ông ở đang bị phong tỏa, không thể nhờ ai mua thuốc giúp được.

Ý kiến

Không chủ quan khi được nới lỏng giãn cách

Cùng với sự nỗ lực, quyết tâm của người dân, của cả hệ thống chính trị, hàng loạt biện pháp triển khai đã bắt đầu đẩy lùi, kiểm soát dịch bệnh. TPHCM đang nâng cao tỷ lệ phủ sóng vaccine đến người dân, tạo hiệu quả về mặt dịch tễ nhằm tiến tới đạt miễn dịch cộng đồng.