Đầu tư sản phẩm hội nhập cho ngành nhựa

Để vượt qua khó khăn, nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp ngành nhựa cần đầu tư đón đầu các sản phẩm mang tính hội nhập cao, đảm bảo khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Sản xuất thùng nhựa tại Công ty Tiến Lộc. Ảnh: CAO THĂNG

Lệ thuộc nhập khẩu

Trên thực tế, thời gian qua ngành nhựa đang phải đối mặt với nhiều khó khăn. Cụ thể, mẫu mã chủng loại của ngành nhựa trong nước sản xuất còn đơn điệu, chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà nhập khẩu cũng như người tiêu dùng trong nước. Chất lượng một số sản phẩm về nhựa của Việt Nam cũng chưa rõ ràng và đảm bảo nên người tiêu dùng chưa thật sự tin và sử dụng các sản phẩm nhựa do doanh nghiệp trong nước sản xuất.

Trong đợt làm việc của Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân mới đây, Hội Cao su - nhựa TPHCM, ông Trần Việt Anh - Phó chủ tich Hội thông tin: Hiện cả nước có khoảng 2.200 doanh nghiệp hoạt động trong ngành nhựa, trong đó hơn 80% tập trung chủ yếu ở TPHCM. Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp đều sản xuất với quy mô gia đình nên năng lực cạnh tranh thấp. Chưa kể, hầu hết nguyên lệu cũng như máy móc trong ngành nhựa đều phụ thuộc nhập khẩu từ Trung Quốc. Bộ Công thương cũng nhận định, hơn 90% doanh nghiệp nhựa của Việt Nam là xưởng gia công cho nước ngoài, chưa làm chủ được thương hiệu cũng như sản phẩm. Đặc biệt, do ngành nhựa chưa chủ động được nguồn nguyên liệu nên giá cả bấp bênh không ổn định. Dù có sự phát triển  mạnh mẽ trong những năm gần đây, nhưng ngành nhựa trong nước chủ yếu được biết đến như một ngành gia công chất dẻo, giá trị gia tăng thấp.

Theo thống kê, trung bình mỗi năm ngành nhựa cần 2,2 triệu tấn nguyên liệu để phục vụ sản xuất nhưng trong nước chỉ mới đáp ứng được khoảng 450.000 tấn, tương đương với 20% nhu cầu, còn lại 80% nhập khẩu từ Hàn Quốc, Ảrập… Điều này dẫn đến việc không những giá thành sản phẩm kém cạnh tranh, ngành nhựa còn đối mặt với thực trạng nhập siêu nguyên liệu, hàm lượng giá trị gia tăng thực thu ở mức gần như không đáng kể. Việc chưa chủ động được nguồn nguyên liệu sản xuất và thiếu công nghiệp hỗ trợ, đã gây trở ngại cho sự tăng trưởng bền vững của ngành nhựa trong nước. Chính vì thế, quy hoạch ngành đã đặt ra mục tiêu trong thời gian tới ngành nhựa sẽ đầu tư để chủ động một phần nguyên liệu sản xuất trong nước. Cụ thể, vào năm 2020 kim ngạch xuất khẩu của ngành nhựa sẽ đạt 7 tỷ USD và từng bước chủ động được nguồn nguyên liệu.

Chuyển dịch cơ cấu hợp lý

 

* Theo quy hoạch phát triển ngành nhựa đến năm 2020, tầm nhìn 2025 đã được Bộ Công thương phê duyệt, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp ngành nhựa giai đoạn 2011–2020 sẽ đạt 17,5%; tỷ trọng ngành nhựa so với toàn ngành công nghiệp đến năm 2020 đạt 5,5%. Phấn đấu đưa mục tiêu phát triển của ngành nhựa đến năm 2020 sẽ trở thành một ngành kinh tế mạnh với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững. Từng bước xây dựng và phát triển ngành nhựa đồng bộ từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến sản phẩm cuối cùng, tận dụng và xử lý phế liệu phát sinh, tăng dần tỷ trọng nguyên liệu trong nước để trở thành ngành công nghiệp tự chủ, có khả năng hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới.

 

Theo đánh giá của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế-xã hội quốc gia, để ngành nhựa trở thành ngành mũi nhọn, cần phải tập trung đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất nguyên liệu, đặc biệt chú trọng sản xuất các loại nguyên liệu trong nước có nhu cầu lớn và có lợi thế. Đẩy mạnh đầu tư vào các dự án sản xuất khuôn mẫu, trục in, thiết bị, phụ tùng có nhu cầu cao, chất lượng tốt, phục vụ cho việc sản xuất hàng nhựa cao cấp và các sản phẩm nhựa xuất khẩu.

Đối với việc đầu tư sản xuất sản phẩm chất lượng cao thay thế hàng nhập khẩu, cần chuyển dịch mạnh cơ cấu đầu tư sản phẩm; tập trung vào các loại sản phẩm nhựa kỹ thuật và vật liệu xây dựng, vì đây là những sản phẩm có nhu cầu rất lớn trên thị trường. Bên cạnh đó, triển khai thực nghiệm gắn với ứng dụng khoa học và công nghệ vào thực tế sản xuất. Đây là yêu cầu thực tế để đáp ứng mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài của sự phát triển của các doanh nghiệp ngành nhựa. Ngoài ra, để phát triển bền vững, cần phải sớm tập trung đầu tư vào các doanh nghiệp thu gom, phân loại phế thải nhựa, xử lý để tái sử dụng, hình thành hệ thống doanh nghiệp sản xuất, chế biến nhựa tái sinh và sử dụng nhựa tái sinh, góp phần vào việc sử dụng tiết kiệm nguyên, nhiên vật liệu, giảm giá đầu vào.

Theo Chủ tịch Ủy ban phát triển bền vững (SDC) Ahmad Khairuddin, từ khi gia nhập AFPT, Việt Nam đã trở thành một trong những nền kinh tế nổi lên trong khu vực Đông Nam Á, trong đó ngành nhựa là một trong những ngành phát triển nhanh nhất tại Việt Nam. Tuy nhiên, do một số biến động kinh tế thế giới gần đây, nhu cầu tiêu thụ giảm, giá nhựa giảm mạnh… đang là thách thức cho ngành nhựa. Do đó, để vượt qua được những khó khăn này, các thành viên của AFPT cần phát huy hết năng lực của mình, đồng thời nâng cao năng suất, duy trì khả năng cạnh tranh. Mặt khác, doanh nghiệp ngành nhựa cần nhận thức đầy đủ cơ hội cũng như thách thức khi hội nhập sâu vào sân chơi toàn cầu nhằm đón đầu các sản phẩm mang tính hội nhập cao, đảm bảo khả năng cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường trong và ngoài nước.

LẠC PHONG

Các tin, bài viết khác

Hợp tác kinh tế và đầu tư

Long An - “Địa chỉ đỏ” thu hút đầu tư

Với chiến lược đầu tư hạ tầng và chính sách hợp lý trong thời gian qua đã giúp tỉnh Long An trở thành điểm sáng, “địa chỉ đỏ” thu hút đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài. Đồng thời, Long An cũng biết cách khai thác các tiềm năng, lợi thế của địa phương mình để vươn lên phát triển trong tốp đầu của khu vực ĐBSCL. 

Chương trình bình ổn thị trường

Mở đường cho hàng Việt vươn xa

Bán hàng trực tuyến dễ dàng hơn, ít tốn chi phí hơn so với bán hàng truyền thống vì sản phẩm của doanh nghiệp (DN) sẽ tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng. Mặt khác, sản phẩm bán qua sàn thương mại điện tử (TMĐT) sẽ được bán bằng chính thương hiệu của DN, là hàng “Made in Vietnam”, không phải thông qua một công ty bán hàng thứ 3 hoặc gia công cho nhiều thương hiệu nước ngoài.

Thích ứng với biến đổi khí hậu

Nâng cao tỷ lệ phát triển năng lượng tái tạo

Trong chiến lược phát triển năng lượng tái tạo (NLTT) ở Việt Nam, Chính phủ đã đặt ra các chỉ tiêu cụ thể như tăng tỷ lệ NLTT trong tổng tiêu thụ năng lượng sơ cấp lên 32,3% vào năm 2030 và khoảng 44% vào năm 2050; tỷ lệ điện năng sản xuất từ NLTT tăng 32% vào năm 2030 và lên 42% vào năm 2050.