Từ ranh giới hành chính đến không gian kinh tế thống nhất

Trong bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 10 khóa XIII (ngày 20-10-2024), Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ: “Phát triển vùng phải trên tinh thần tự lực, tự cường, lấy liên kết vùng làm động lực tăng trưởng, không để địa phương nào bị bỏ lại phía sau trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc". Triết lý phát triển này đòi hỏi mỗi địa phương phải tự đứng trên đôi chân của mình nhưng đồng thời phải nắm chặt tay nhau trong một chuỗi giá trị chung.

Cơ cấu lại nền kinh tế dựa trên thế mạnh tự nhiên và tiềm năng hội nhập

Phát triển vùng không phải là điều hoàn toàn mới mẻ. Song, vì nhiều lý do, vai trò của các vùng trong tiến trình phát triển quốc gia vẫn còn khá mờ nhạt. Chính vì thế, trong năm 2022, Trung ương đã ban hành hàng loạt nghị quyết, theo đó, 7 vùng kinh tế trên cả nước đã được cơ cấu lại thành 6 vùng: Đông Nam bộ, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long, Trung du và miền núi phía Bắc.

Để thể chế hóa định hướng này, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 138/NQ-CP và Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 81/2023/QH15 về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, xác định rõ trật tự pháp lý và không gian phát triển vùng.

S5b.jpg
Nông dân ĐBSCL thu hoạch lúa Đông Xuân

Có thể thấy sự thay đổi lớn nhất là việc hợp nhất vùng Bắc Trung bộ và duyên hải Nam Trung bộ thành một vùng duy nhất: Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung. Việc rút gọn từ 7 xuống 6 vùng đã tạo sự kết nối biển liền mạch; tăng quy mô thị trường vùng, giúp vùng miền Trung có không gian đủ lớn để bố trí các cụm ngành bổ trợ cho nhau, thay vì cạnh tranh trực diện về cảng biển nước sâu. Việc quản lý theo vùng lớn giúp giải quyết vấn đề an ninh nguồn nước và thiên tai xuyên tỉnh tốt hơn. Đây là bước đi chiến lược nhằm cơ cấu lại toàn bộ nền kinh tế dựa trên thế mạnh tự nhiên và tiềm năng hội nhập.

Triết lý cốt lõi ở đây là xóa bỏ ranh giới hành chính của không gian kinh tế. Một không gian kinh tế phải là một thực thể thống nhất, không bị chia cắt bởi địa giới hành chính của các tỉnh. Thực tế hiện nay cho thấy, dù đã có những bước tiến trong đổi mới ở cấp tỉnh, nhưng tư duy vùng vẫn chưa thực sự bứt phá. Các tỉnh vẫn có xu hướng "tự cung tự cấp" về hạ tầng, như việc mỗi tỉnh đều muốn có một sân bay, cảng biển, dẫn đến không tận dụng được thế mạnh tổng thể của quốc gia. Phát triển vùng chính là giải pháp để chấm dứt tình trạng cát cứ, giúp các địa phương cùng ngồi lại trong một hệ sinh thái chung.

Một trong những vai trò lớn nhất của liên kết vùng là tăng giá trị gia tăng cho sản phẩm quốc gia và tạo ra khả năng điều tiết thị trường quốc tế. Hiện nay, do thiếu liên kết, các sản phẩm như cà phê ở Tây Nguyên thường được xuất khẩu thô ngay tại cảng để thu tiền nhanh, khiến giá trị gia tăng rất thấp. Dù Việt Nam đứng thứ ba thế giới về xuất khẩu cà phê, nhưng chúng ta vẫn không thể điều chỉnh hay khống chế được giá cả mà phải phụ thuộc vào sàn giao dịch Luân Đôn.

Nếu phát triển vùng đúng hướng, chúng ta có thể đầu tư bài bản, đồng bộ cho hệ thống bảo quản, công nghệ chế biến sâu. Khi đó, vùng kinh tế không chỉ là nơi sản xuất mà còn là nơi điều tiết giá cả và tiếp thị thị trường. Phát triển vùng sẽ tạo ra áp lực thị trường lành mạnh, thúc đẩy người sản xuất liên kết lại, hình thành các mô hình sản xuất lớn, thay thế cho lối sản xuất nhỏ lẻ, manh mún hiện nay. Đây chính là chìa khóa để đưa hàng hóa Việt Nam thoát khỏi cảnh bán thô, thu tiền lẻ trên thị trường toàn cầu.

Xây dựng hệ sinh thái vùng

Phát triển vùng không phải là sự sao chép mô hình của nhau mà phải dựa trên tính riêng biệt và đặc thù. Mỗi vùng cần được quy hoạch như một hệ sinh thái hoàn chỉnh phục vụ cho thế mạnh cốt lõi của mình. Chẳng hạn như vùng đồng bằng sông Cửu Long, nếu đã xác định là vùng lúa, thì mọi nguồn lực từ thủy lợi, hệ thống điện, công nghiệp phụ trợ đến thương mại đều phải phục vụ cho sản xuất lúa. Thậm chí, cần phải quy hoạch lại dân cư để có thể ứng dụng công nghệ hiện đại như máy bay không người lái (drone) trong sản xuất mà không ảnh hưởng đến đời sống người dân.

Hoặc vùng Đông Nam bộ, với trọng tâm phát triển trung tâm tài chính và dịch vụ thì cần dịch chuyển các ngành công nghiệp đơn giản sang các tỉnh lân cận... Việc xác định rõ "bản sắc kinh tế" của từng vùng sẽ giúp tối ưu hóa nguồn lực tài nguyên và tránh sự đầu tư chồng chéo, cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương trong cùng một khu vực.

Cách đánh giá hiện nay cần phải thay đổi. Chẳng hạn, việc áp đặt chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế địa phương sẽ là không hợp lý khi các địa phương trong vùng đã được “phân vai”. Một tỉnh biên giới như Tuyên Quang cần được giao nhiệm vụ chính là giữ đất, giữ dân và bảo tồn văn hóa, chứ không phải là tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá. Việc đánh giá cán bộ địa phương cũng vậy, phải dựa trên mức độ hoàn thành các nhiệm vụ đặc thù được giao trong tổng thể quy hoạch vùng.

Để phát triển vùng, không thể dừng lại ở những khẩu hiệu lỏng lẻo, mà cần xây dựng các đạo luật riêng cho từng vùng kinh tế. Chúng ta cần những đạo luật cụ thể như Luật Phát triển vùng Đông Nam bộ, Luật Phát triển vùng Tây Nam bộ, Luật Phát triển vùng miền Trung - Tây Nguyên... Những đạo luật này sẽ là "chiếc áo được thiết kế riêng" cho từng vùng, quy định rõ vùng đất đai nào được làm gì, giới hạn diện tích cây trồng để bảo vệ nguồn nước ngầm, trách nhiệm của các bộ ngành trong việc hỗ trợ thị trường cho vùng đó.

Cũng liên quan đến thể chế, cần sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bổ sung quy định bắt buộc về đánh giá tác động liên vùng. Mọi dự án đầu tư lớn (như cảng biển, sân bay) ở một tỉnh phải được đánh giá xem nó ảnh hưởng như thế nào đến các hạ tầng hiện có ở các tỉnh lân cận trong vùng. Nếu chúng ta thực hiện tốt điều này, sẽ không có chuyện xây dựng cảng Chân Mây và cảng Liên Chiểu quá sát nhau, gây lãng phí nguồn lực và hạn chế không gian phát triển.

Vấn đề quan trọng nữa là thiết lập cơ chế "nhạc trưởng" điều hành vùng. Tuy đã được đề cập đến từ lâu, nhưng liên kết vùng hiện nay vẫn chưa hiệu quả như mong muốn, do thiếu một cấp quyết định có thẩm quyền vượt lên trên lợi ích của từng địa phương. Có thể xem xét mô hình Khu ủy do một đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị phụ trách. Cơ quan này sẽ sử dụng bộ máy hiện có của Đảng để chỉ đạo xuyên suốt về mặt kinh tế, đảm bảo các nghị quyết của khu ủy được thể chế hóa vào nghị quyết của HĐND các tỉnh, thành. "Nhạc trưởng" vùng sẽ là người quyết định những vấn đề có thể gây tranh cãi như tỉnh nào làm cảng biển, tỉnh nào tập trung công nghiệp, tránh tình trạng tỉnh nào cũng muốn xây dựng cảng biển, cao tốc, sân bay… Thay vì xây dựng quy hoạch, kế hoạch dựa trên những gì đang có, chúng ta cần giải bài toán ngược: từ mục tiêu kết quả để tìm ra giải pháp cho từng vùng, từng ngành kinh tế.

Tựu trung, phát triển kinh tế vùng không chỉ là một giải pháp kinh tế mà là một cuộc đổi mới về tư duy quản trị quốc gia. Bằng cách luật hóa các chính sách vùng, thiết lập cơ chế điều hành tập trung thông qua các "nhạc trưởng" có thực quyền và thay đổi cách đánh giá hiệu quả phát triển, Việt Nam có thể tận dụng tối đa dư địa tăng trưởng còn rất lớn của mình. Đây là con đường tất yếu để chúng ta nâng cao vị thế trên trường quốc tế, chuyển từ một nền kinh tế sản xuất nhỏ, phân tán sang một nền kinh tế xanh, số và có giá trị gia tăng cao trong kỷ nguyên mới.

TS NGUYỄN ĐỨC KIÊN,

Nguyên Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng, đại biểu Quốc hội khóa XII, XIII, XIV

Tin cùng chuyên mục