Bến Tre - 10 năm quy hoạch, 5 năm ra quyết định thu hồi đất

Vẫn không triển khai được Khu bảo tồn sân chim Vàm Hồ

Vẫn không triển khai được Khu bảo tồn sân chim Vàm Hồ

Cách nay gần 10 năm (29-12-1997) Khu bảo tồn sân chim Vàm Hồ (KBTSCVH) với tổng diện tích (khu I và II) 67,6ha được UBND tỉnh Bến Tre quy hoạch bằng Quyết định 2409/QĐ-UB và đến ngày 21-12-1998 dự án đầu tư xây dựng KBTSCVH được phê duyệt bằng Quyết định 2179/QĐ-UB. Nhưng công tác triển khai dự án lừng khừng do một số hộ dân ở khu II - gọi chung là đất ngoài đê - không chịu di dời. Và 10 năm kể từ ngày công bố quy hoạch, 9 năm phê duyệt dự án, 2 lần ra quyết định thu hồi đất (21-10-2002, 4-7-2006), 1 lần ra quyết định cưỡng chế (21-9-2006) dự án KBTSCVH vẫn tiếp tục... lừng khừng!

Đất của má tui, đất của chú tui và... đất của tui (?!)

Tiếp xúc với ông Nguyễn Văn Cỏn, 52 tuổi, người đang sử dụng 18.816m2 đất, ông nói:

- Đất này hồi xưa của má tui, diện tích thảy là 15.000m2. Hồi đó cũng hổng nhà cửa, sản xuất gì, chỉ vô ra đặt lá (khai thác lá dừa nước). Năm 1986, nó nằm trong 100ha nhà nước quy hoạch khu kinh tế mới (KTM), gia đình tui chấp nhận. Nhưng các hộ KTM mần hổng hiệu quả. Năm 1989 má tui cho tui đất này, tui vô mần nhưng nước mặn quá cũng hổng mần được gì. Năm 2002 nước ngọt về mới mần tốt. Bây giờ nhà nước nói di dời, tui chấp hành, nhưng phải bồi thường theo giá thị trường chớ không hỗ trợ gì hết. Hổng đáp ứng như ý nguyện, tui thà chết không di dời!.

Vẫn không triển khai được Khu bảo tồn sân chim Vàm Hồ ảnh 1

Bên phải đê bao này là Khu bảo tồn sân chim Vàm Hồ.

Tôi hỏi: “Nhưng - như ông nói - từ năm 1986, đất này nhà nước đã quy hoạch vào khu KTM và gia đình ông chấp nhận. Các hộ dân KTM làm hay bỏ đi thì đất vẫn do nhà nước quản lý, làm sao má ông “cho” ông được?”. Ông Cỏn dứt khoát: “Nhà nước quản lý kệ nhà nước, đất má tui cho tui cứ mần!”. “Nếu nói là đất của má ông thì cũng chỉ có 15.000m2 thôi. Bây giờ nó “tăng” lên 18.816m2. Vậy phần “nở” ra 3.816m2 có phải là “lấn chiếm” không?”. “À... không! Đó là công tui khai phá!”. “Nhưng đây không phải đất hoang, nhà nước không giao cho ông khai phá?”. “Cho hay không tui không cần biết. Tui cứ khai phá. Bây giờ phải bồi thường đầy đủ theo giá thị trường tính trên 18.816m2 tui mới chịu”.

Tại nhà anh Thái Văn Giác, 33 tuổi, đang sử dụng 1.300m2, anh cho biết vào đây từ năm 1998, đất chẳng bao nhiêu, nghèo hoài, sinh kế chủ yếu là nhờ anh có nghề thợ mộc. Tôi tin lời anh nói.

- Năm 1998 anh chị mới đến ở, vậy chắc không phải là hộ KTM trụ lại, cũng không phải đất do khai phá mà có?

- À... của chú tui (ông Nguyễn Văn Tâm) cho tui.

- Chú ruột của anh? Ông Tâm cho đất anh thiệt sao?

- Không phải chú ruột... chú quen biết thôi. Ổng mần hổng hết, bèn sang cho tui với giá 2 triệu đồng (khoảng 5 chỉ vàng thời điểm đó).

Theo tìm hiểu, tôi được biết ông Nguyễn Văn Tâm đang sử dụng 8.000m2 đất khoán khu vực trong đê (không thuộc dự án). Với đất khu vực ngoài đê thuộc dự án, ông đã bán cho anh Thái Văn Giác 1.300m2, bà Nguyễn Thị Bé Ba 700m2 mà vẫn còn sử dụng 30.384m2! Tại nhà anh Giác, tôi gặp chị N. Chị sôi nổi nói rằng đất trong và ngoài đê của cha mẹ chị chỉ có 10ha, mà phải chia cho mỗi con một ít. Đất ngoài đê này gia đình chị đã ở trước năm 1993. Chú Hai chị ở Hà Nội nói theo luật đất đai mới thì đất ở trước năm 1993 không tranh chấp thì được công nhận sở hữu, nếu di dời thì phải bồi hoàn.

Đất của ai?

Năm 1998, khi dự án được phê duyệt ở khu II chỉ có chừng 10 cái chòi lá; năm 2002 - ban hành quyết định thu hồi đất lần thứ nhất đã có 15 nhà lá; năm 2006 ban hành quyết định thu hồi đất thì đã thành 25 căn vừa nhà lá vừa nhà bán kiên cố! Tiếp tục vận động, 9 hộ dân đã nhận tiền hỗ trợ và di dời, giao trả đất lại cho nhà nước. Đến nay còn lại 16 hộ kiên quyết không di dời và tiếp tục khiếu kiện. Thực chất từ 31-5-1983, theo Quyết định 502/UB-QĐ của UBND tỉnh Bến Tre thì phần đất này đã nằm trong 2.090ha giao cho Nông trường Dừa thuộc nhà nước quản lý. Ngày 29-12-1997, bằng Quyết định 2409/QĐ-UB, đây là khu II của dự án xây dựng KBTSCVH và đã công bố rộng rãi. Việc tổ chức sản xuất yếu kém dẫn đến giải thể nông trường quốc doanh.

Năng lực yếu kém của một số cán bộ lãnh đạo xã trước đây đã dẫn đến những giải quyết nhập nhằng, thậm chí trái quy định. Cụ thể như việc UBND xã Vĩnh Hòa cấp cho ông Nguyễn Văn Tâm 2.000m2, ông Trịnh Văn Mạng 2.000m2 đất mà không xác định rõ vị trí, không ngăn chặn khi họ lấn chiếm gấp nhiều lần phần được cấp (ông Tâm đã sang bán 11.000m2, vẫn còn sử dụng 30.384m2; ông Mạng đã cho con rể, con ruột 9.973m2, vẫn còn sử dụng 14.115m2); việc 5 cán bộ xã Vĩnh Hòa (trong đó có bí thư tiền nhiệm và bí thư đương nhiệm) được UBND xã cho đắp đập khai thác con rạch tự nhiên để cải thiện đời sống, tiền công đắp đập hết 4 chỉ vàng, sau vì khai thác không hiệu quả đã tự ý cho ông bà Lê Văn Trị – Trần Thị Tuyết thuê khai thác con đập trong khu II trong 3 năm với giá 4 chỉ vàng (mới chồng 2 chỉ) vào năm 2001 - khi dự án KBTSCVH đã phê duyệt được 5 năm! (hộ này sau khi sang bán 3.000m2 vẫn còn sử dụng 6.000m2 ở khu II).

Hỗ trợ di dời thế nào?

Ông Chín Hồng (Nguyễn Thanh Hồng – Chủ tịch UBND huyện Ba Tri), cho biết quyết định cưỡng chế đã ban hành từ 21-9-2006 và việc thực hiện cưỡng chế 16 hộ còn lại sẽ kiên quyết làm với sự tăng cường hỗ trợ của tỉnh.

Trao đổi với ông Chín Hồng, tôi phản ánh một bức xúc của các hộ dân ở khu II: Có phải huyện thu hồi đất của dân để giao cho Công ty cổ phần XNK Thủy sản BT khai thác mặt nước sông Ba Lai nuôi cá? Ông Chín Hồng khẳng định: Đến thời điểm này, không có việc giao phần đất thu hồi cho Công ty cổ phần XNK Thủy sản BT vì phải giữ trong sạch nước sông Ba Lai là nguồn cung cấp cho Nhà máy Nước Bến Tre và vì đáp ứng đúng với mục tiêu và yêu cầu của dự án.

Đọc kỹ bảng chiết tính các khoản tiền hỗ trợ di dời, tôi thực lòng thấy còn thấp trong khi phần lớn hộ dân khu II đều nghèo. Tôi cho rằng trước khi thực hiện cưỡng chế, UBND huyện Ba Tri nên xin ý kiến UBND tỉnh xem xét mọi khả năng xem còn nguồn kinh phí nào tăng mức hỗ trợ thêm không. Nếu có nên bổ sung và đừng quên 9 hộ đã chấp hành di dời trước đó. Ông Chín Hồng ghi nhận ý kiến này.

Tôi biết số bà con phải di dời khỏi khu vực xây dựng dự án KBTSCVH muốn được “bồi thường theo giá thị trường” chứ không phải là “hỗ trợ di dời”. Họ thất vọng khi tôi xin được nhìn qua những giấy tờ nào đó chứng minh họ được cấp (hoặc tạm cấp, tạm giao), được cho phép khai phá đất...; họ cũng tức giận khi tôi ái ngại chuyện họ lặn lội ra Hà Nội nhờ chú Hai nào đó “có vợ quen biết với bà con một đồng chí lãnh đạo”. Tôi hiểu và thương biết bao giọt mồ hôi, nước mắt, tình cảm mà bà con đổ xuống mảnh đất ven rừng. Tận đáy lòng, bà con được nhận số tiền hỗ trợ càng lớn tôi càng mừng. Nhưng di dời để thực hiện dự án xây dựng KBTSCVH là chuyện không thể tiếp tục... lừng khừng!  

Bài, ảnh: NGUYỄN THỊ KỲ

Tin cùng chuyên mục