Kể từ ngày thành lập tới nay, lâm phần rừng đước thuộc Vườn quốc gia (VQG) Mũi Cà Mau năm nào cũng bị chặt phá. Áp lực lên cây rừng nặng nề hơn theo dòng người di cư nghèo…
Mùa nào cũng phá rừng
Sau nửa tháng tập trung cao điểm cùng các lực lượng liên quan phối hợp giải tỏa các lò hầm than trái phép trên địa bàn lâm phần, ông Ba Tuấn (Trần Quốc Tuấn), Giám đốc VQG Mũi Cà Mau thở phào nhẹ nhõm: “Áp lực lò than coi như tạm ổn, ít ra cũng đỡ lo trong vài tháng tới. Bởi khi hột mưa rớt xuống, có kêu dân vô rừng chặt cây hầm than bà con cũng không đi. Làm thứ khác tiền nhiều hơn mà đỡ cực...”.
Điều ông Tuấn nói đến là mùa giống thủy sản. Quy luật lập địa ở vùng bãi bồi ven biển đất Mũi, hàng năm cứ vào mùa mưa, thủy sản nhiều loại tìm vô mé bờ sinh sản. Nguồn lợi ấy kéo dài có khi đến tận tháng chạp năm sau.
Đây là cơ hội kiếm tiền của hàng ngàn hộ nghèo không đất canh tác đang sinh sống ở vùng đệm VQG Mũi Cà Mau và vùng rừng phòng hộ ven biển đất Mũi. Vào thời điểm ấy, nạn chặt phá cây rừng vẫn diễn ra nhưng với mục che chòi tạm và sử dụng gỗ để làm các dụng cụ đăng, bắt, cào giống thủy sản.
Mảng cây rừng phòng hộ ven biển đất Mũi bị đốn hạ nhiều hơn sau mỗi vụ con giống thủy sản.
Dòng người từ khắp nơi dồn về ồ ạt (đông nhất là mùa cào nghêu giống), bình quân mỗi người 1 vợt cào nghêu cũng cần có 1 cây rừng. Trong số đó không ít người là bà con trong gia đình, che chòi tạm ven biển để tiện bề mưu sinh, qua mùa giống mới về nhà. Nếu tính sơ sơ, che một chòi nhỏ cũng cần ít nhất trên 50 cây đước, chòi lớn phải mất 100- 200 cây. “Làm vậy có khi còn nhiều hơn là đốn cây hầm than”, Ba Tuấn nhăn mặt, lo lắng.
Chạy xe dọc con lộ cặp bìa rừng thuộc khu bảo vệ nghiêm ngặt của VQG Mũi Cà Mau, bên kia mé rừng phòng hộ ven biển là bãi nuôi nghêu Khai Long, chúng tôi chứng kiến lòi lỏm nhiều khoảng đất trống, cây mắm, cây đước… bị đốn hạ nhiều nơi. Đó là tàn tích còn sót lại của vụ nghêu giống năm 2011.
Ông Tuấn giải thích: “Rừng nằm sát biển, chỉ cách có con lộ. Lúc cao điểm bà con lén vô chặt cây vào ban đêm không thể kiểm soát nổi. Bởi vậy, qua một vụ giống thủy sản là thấy rừng thưa hơn, đất trống ven rừng phòng hộ nhiều hơn”.
Không thể đóng cửa rừng
Ông Lê Quốc Chọn, Đội trưởng trạm kiểm lâm Cái Đôi, thuộc Hạt kiểm lâm Đất Mũi, nói: Ranh giới nhà dân, khu dân cư với rừng mong manh quá, chỉ cách nhau con sông, con rạch. Trong khi đó, lực lượng chúng tôi quá mỏng chưa thể giám sát hết tình hình, ngay cả ban ngày chứ đừng nói chi đến việc bà con lén chặt cây vào ban đêm. Nhiều lúc chúng tôi còn bị chống đối, hành hung. Chính việc lẻn vào rừng đốn cây kiếm sống quá dễ dàng nên thời gian qua, lâm phần rừng đước lúc nào cũng bị chặt phá.
Đi cùng cán bộ kiểm lâm vào sâu trong ruột rừng thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, chúng tôi phát hiện rất nhiều mảng rừng đước bị chặt giống như tỉa thưa, có cây bị chặt còn ứa nhựa phần gốc. Cặp bên bìa rừng là phần hậu vuông tôm của hộ dân. Người ta đổ thừa bị trộm cắp tôm quá nhiều nên gần đây tự ý cất nhà trên đất để canh trộm.
Chính quyền chưa thể đóng cửa rừng bởi dân nghèo nằm ngay ruột rừng, hàng ngày, hàng giờ gây áp lực lên rừng. Hòa cùng dòng người nghèo ấy, bộ phận người có đất cũng tham gia đốn cây rừng để làm nhà, hầm than thương mại. Như vụ chống người thi hành công vụ ở Cái Mòi giữa tháng 3 vừa qua, 1 trong 5 đối tượng bị tạm giam là người nhà của ông Phạm Thanh Sơn, Trưởng ấp Bà Hương.
Qua điều tra ngẫu nhiên của cán bộ VQG Mũi Cà Mau, có khoảng 90% người dân đất Mũi có nhu cầu sử dụng cây rừng để phục vụ nhu cầu gia đình, như: làm nhà, hàng đáy, phơi cá khô, đăng bắt giống thủy sản. Vấn nạn ấy tồn tại âm ỉ nhiều năm qua, chưa giải quyết tận gốc mà chỉ mới giải quyết phần ngọn.
Ông Lý Hoàng Tiến, Bí thư kiêm chủ tịch UBND xã Đất Mũi, trăn trở: “Phần lớn hộ hầm than trái phép có hoàn cảnh khó khăn thực sự nên rất khó xử lý. Khi nào mình lo cho họ chuyển đổi được nghề khác, đảm bảo nuôi sống gia đình thì việc tuyên truyền không vi phạm lâm luật sẽ phát huy tác dụng. Tới đây, xã sẽ quy hoạch khu nuôi nghêu ưu tiên chuyển những người hành nghề hầm than trái phép tham gia, tạo sinh kế ổn định về lâu dài.
Đồng tình với quan điểm ấy, theo ông Trần Quốc Tuấn, dân nghèo coi rừng là “nồi cơm”, muốn bà con không phá rừng thì phải lo cho nồi cơm gia đình họ ổn định. Muốn vậy, cần có chính sách hợp lý hỗ trợ, giúp bà con chuyển đổi nghề hoặc cho phép khai thác giống thủy sản ven bờ, có sinh kế phù hợp hơn. Khi cuộc sống ổn định, bà con sẽ chấp hành tốt chủ trương không phá rừng.
Mặt khác, cũng cần hạn chế dòng người di cư tự do. Bởi người ta tới đây sống cần phải làm nhà. Không có tiền mua cây thì đường nào bà con cũng tìm cách đốn rừng. Ngoài ra, để giảm áp lực lên rừng cũng cần huy động sức mạnh của cả cộng đồng và sự vào cuộc của chính quyền các cấp.
XUÂN HẠ