Lớn lên trong không khí hào hùng “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, hai người đã gặp nhau trong chiến trường. Bất chấp gian khổ, vượt qua bom đạn chiến tranh, họ dành trọn tình yêu cho nhau. Rồi chiến tranh đã cướp đi sinh mạng người con trai. Nhưng sau hơn 30 năm qua, người phụ nữ ấy vẫn thực hiện hàng trăm chuyến đi đến các chiến trường xưa để tìm mộ người yêu.
Yêu nhau trong bom đạn
Sinh ra ở một vùng quê nghèo ven biển (thôn Hội Tiến, Xuân Hội, Nghi Xuân, Hà Tĩnh), ngay từ nhỏ chị Phùng Thị Huệ đã được chứng kiến được sự mất mát, đau thương mà chiến tranh để lại. Năm vừa tròn 16 tuổi, trong khí thế hào hùng của đất nước, chị đã phải “khai man” thêm hai tuổi để được ra chiến trường.
30 năm qua chị Huệ vẫn miệt mài lao động để dành dụm cho những chuyến đi tìm hài cốt
Trải qua quãng đường hơn 15 cây số, chị tìm gặp bằng được cán bộ huyện Đoàn để xin được gia nhập đội thanh niên xung phong (TNXP). Đơn chị được chấp nhận. Hai ngày sau, chị chia tay gia đình, rời quê hương lên đường ra trận.
Hành quân một mạch từ Hà Tĩnh vào đến Quảng Bình, đội TNXP của chị đóng chốt tại sông Gianh. Trong những ngày cuối năm, mưa phùn lất phất, cái rét căm căm, da chị thâm tím lại. Thấy vậy, anh Thọ (sau này chị mới biết tên) đang ngồi gần bếp lửa, nói vọng ra: “O gì ơi! Vào đây mà sưởi cho ấm!”. Sau cái buổi đó, hai người quen nhau.
Trước ngày chia tay hành quân ra trận, anh Thọ đã thức trắng đêm, viết cho chị bức thư dài 6 trang bày tỏ tình cảm của anh với chị. Sáng hôm sau, anh trao chị bức thư và dặn: “Anh đi rồi hãy mở ra nhé. Em ở nhà nhớ giữ gìn sức khỏe, anh sẽ sớm trở về với em...”.
Trong một lần chị ốm nặng, đang nằm trên võng trong rừng, thì bỗng nhiên anh Thọ xuất hiện: “Từ đơn vị anh xin phép về đây thăm em. Anh mua cả thuốc cho em nữa nì, em uống cho khỏe lại đi”. Lúc này, chị liền ôm lấy anh khóc nức nở và từ đây, họ biết rằng từ đây họ không thể sống thiếu nhau.
Được ít tháng sau chị bị thương, đơn vị cho về quê an dưỡng, còn anh Thọ được cử đi học tại Trường Trung cấp Hàng hải (Hải Phòng). Không lâu sau, chị nhận được bức thư của anh, trong thư anh viết: “Anh vừa nghe tin mẹ và em anh bị giặc Mỹ ném bom chết cả rồi. Em hãy lên nhà anh thắp hương cho mẹ và em giúp anh nhé”.
Bỏ qua sự ngại ngùng, chị tìm lên nhà anh, khi chứng kiến được cảnh như vậy, chị cũng không kìm nén được nỗi đau khổ, như chính mình vừa mất đi người mẹ, người em vậy. Từ đó, gia đình anh ấy biết chúng chị yêu nhau trong chiến trường, nên xem chị như con cái trong nhà.
Đầu năm 1972, giặc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc. Anh xin nghỉ học, tiếp tục tham gia vào quân đội. Trên đường hành quân vào Quảng Trị, anh tạt qua nhà thăm chị. Trong đêm chia tay, anh đọc cho chị nghe bài thơ “Đợi anh về”, rồi anh nói: “Dù sắp tới có thế nào đi nữa, em cũng nhớ đợi anh về nhé. Cuối năm này, anh sẽ về và chúng mình tổ chức đám cưới nhé em”. Thế rồi, trong đêm anh hành quân ra đi, để lại với chị những vần thơ “Em ơi! Đợi anh về”…
Những ngày tháng đợi chờ anh cứ dằn vặt trôi qua. Có nhiều anh đến nhà ngỏ ý muốn xe duyên, bố mẹ thì giục cưới chồng, nhưng chị vẫn kiên định chờ anh.
Trong buổi trưa hè định mệnh hôm ấy, trên con đê dẫn về nhà, chị gặp một người bạn, cô ấy liền hỏi: “Về nhà anh Thọ ngay đi”. Nghe thế, chị nửa mừng nửa lo, không biết anh Thọ về nhà để chuẩn bị cưới hay là…
Chị chạy một mạch lên nhà anh. Đến nơi, mọi người trong nhà đang vật vã, đau đớn trước hung tin đơn vị báo về: Anh đã hy sinh. Cầm tờ giấy báo tử trên tay, chị chỉ kịp đọc được dòng chữ: “Liệt sĩ Đặng Xuân Thọ hy sinh ngày 26-1-1973, tại mặt trận phía Nam, thi hài được mai táng tại khu vực riêng của đơn vị gần mặt trận”. Mọi thứ dường như sụp đổ dưới chân, chị ốm li bì mấy tháng liền.
Sau một năm anh ấy hy sinh, mẹ chị bảo: “Người ta cũng đã mất rồi, con cũng chuẩn bị đi lấy chồng đi chứ, con gái ở mãi thế sao được”. Nhiều người đến nhà xin cưới, nhưng chị đều một mực từ chối, quyết giữ lòng son sắt trọn đời với anh.
Thời gian sau, không chịu được sức ép buộc lấy chồng của gia đình, chị liền trốn sang Vinh (Nghệ An). Cho đến 12 năm sau, khi bố mẹ không còn nói đến chuyện lấy chồng thì chị mới trở về nhà. Vừa về nhà, chị xin bố mẹ cho ra ở riêng và dồn toàn bộ tiền tích góp bấy lâu nay để nhờ người dựng cho một túp lều tranh bên bờ sông Lam.
Hàng ngày, chị mưu sinh bằng cách lênh đênh trên con bè dọc bờ sông để kiếm con cá, con tép. Túp lều chị ở cũng là nơi lập bàn thờ cúng anh. Dù chưa chính thức trở thành vợ chồng, nhưng từ lâu chị đã xem anh là người bạn đời tri ân, tri kỷ của mình.Năm 1989, một cơn lũ tràn về, xóa sạch luôn toàn bộ căn nhà và bàn thờ anh ấy.
Những chuyến… tìm chồng
Từ những ngày nhận được tin anh hy sinh đến khi hòa bình lập lại, lúc nào chị cũng mong ước đưa hài cốt anh về quê nhà an nghỉ. Thế là sau khi đất nước thống nhất, chị quyết định một mình lên đường đi tìm hài cốt anh.
Biết cuộc sống của chị khó khăn, thỉnh thoảng nhiều người trong làng lại mang cho chị ít cân gạo, mớ cá, hay mấy chục ngàn đồng. Những lời động viên, chia sẻ của bạn bè, anh em làm cho chị vững bước hơn trong cuộc hành trình tìm hài cốt của anh. Từ một cô gái trẻ trung, xinh đẹp, nay chị Huệ đã gần 60 tuổi nhưng chị vẫn giữ được tình yêu son sắt với người mình yêu. |
Không hề có một thông tin gì về nơi chôn cất anh, nên trong chuyến đi đầu tiên, chị tìm đường vào Quảng Trị, đến với nhiều nghĩa trang như: Trường Sơn, Khe Sanh, Đường 9..., nhưng sau nhiều tháng tìm kiếm đều không hề có tên anh trên bia.
Trở về nhà, tiếp tục gom góp tiền bạc, chị lại lên đường vào Tây Nguyên, Tây Ninh, rồi vòng qua các chiến trường Nam bộ. Trong nhiều lần, chị đã phải đi bộ hàng chục km đường rừng, leo đèo, vượt suối để tìm đường vào các chiến khu xưa.
Nhiều đêm phải ngủ lại trong rừng sâu, cái đói, cái rét ập đến, nhưng cứ nghĩ về anh là chị lại vững vàng bước đi tiếp.
Chị đã từng tìm đến những vùng bìa dãy Trường Sơn, rồi sang các nghĩa trang liệt sĩ người Việt ở Lào, Campuchia, nhưng tại đây họ đều không nhận được thông tin gì về anh.
Sau những chuyến hành trình, chị lại trở về nhà với túp lều tranh. Dù sức khỏe đã yếu, nhưng chị vẫn lao động để tích góp tiền của dành cho những chuyến hành trình tiếp theo. Mỗi lần nghe đài, báo thông tin về liệt sĩ, chị lại mang sổ sách ra ghi chép. Hễ nghe có người bảo anh ấy đã từng đi qua chiến trường này, chiến trường kia là ít hôm sau chị lại lên đường đi tìm.
Kỳ Ninh