43 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Lào (5-9-1962 - 5-9-2005)

Bài 1:Giữ gìn nguồn cội

Bài 1:Giữ gìn nguồn cội

LTS: Có lẽ trên thế giới này, hiếm có hai dân tộc láng giềng nào cùng chung một số phận và con đường đi lên tương đồng như VN và Lào: cùng là thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, cùng tiến hành cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do trong 30 năm…

Trên các chặng đường lịch sử ấy, nhân dân hai nước đã kề vai sát cánh, đoàn kết và hợp tác chặt chẽ trong chiến đấu cũng như xây dựng Tổ quốc. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết về mối quan hệ ấy: Việt-Lào hai nước chúng ta/Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long.

Kỷ niệm 43 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa VN và Lào, Báo Sài Gòn Giải Phóng giới thiệu loạt ký sự-ghi chép về một cuộc sống mới của cộng đồng người Việt đang sinh sống, học tập, lao động tại tỉnh Chămpasăk, thủ phủ vùng Nam Lào.

Tỉnh Chămpasăk là đơn vị kết nghĩa với TPHCM từ nhiều năm qua và đây cũng đang là quê hương thứ hai của 4.067 người Việt thuộc 3-4 thế hệ. Có thể nói, không tỉnh, thành phố nào tại CHDCND Lào lại có đông người Việt định cư đến thế, họ đã và đang đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của Chămpasăk.

  • Người Việt đang ở đâu?

Bài 1:Giữ gìn nguồn cội ảnh 1

Ông Đấu - Chủ tịch Hội Người VN tại Chămpasăk.

Trong số 4.067 người Việt ở Chămpasăk, bà con sống tập trung tại thị xã Pak Sê, chia làm 8 xóm Việt mang những cái tên cũng rất Việt như Tân An, Nhà Đèn, Xóm Đá, Tân Phước, Sân Bay…

Theo Hội Người Việt Nam ở Chămpasăk, bà con Việt kiều đã có mặt ở địa phương từ những năm đầu của thế kỷ trước, trải qua 3-4 thế hệ, bản sắc Việt không bị nhạt phai mà trái lại, càng lúc càng đậm đà hơn do có thêm 366 người Việt khác sang đây sinh sống từ năm 1989. Ở 8 xóm Việt kiều, còn 8 chi hội hoạt động dưới sự lãnh đạo của Hội Người Việt và Tổng Lãnh sự quán nước CHXHCNVN.

Hiện Chămpasăk có 1 trường tiểu học mang tên Hữu Nghị do cộng đồng người Việt xây nên, đang giảng dạy cho 1.200 học sinh từ mẫu giáo đến lớp 5. Năm 2003, đã có 2 giáo viên từ nước ta sang đây công tác và ở lại giảng dạy trong 2 năm, mỗi tuần giảng 5 tiết Việt Văn (đọc, viết, toán) từ chương trình của Bộ GD-ĐT Việt Nam. Phần còn lại, các học sinh Việt đều học theo chương trình của bạn.

Trong những ngày công tác trên đất bạn, chúng tôi rất đỗi ngỡ ngàng và hạnh phúc vì có thể gặp rất nhiều đồng hương trên từng con đường, góc phố. Quán cơm Cô Vậy (bản Vạch Luống, Pak Sê) là một địa điểm như thế. Khách du lịch VN nào cũng đều được hướng dẫn ghé qua, rồi từ đó được chỉ các bước đi tiếp theo. Bà Vậy kể: “Tôi thấy bà con mình sang học tập, công tác cũng đông nên mở quán bán cơm VN, không ngờ được ủng hộ quá nhiều.

Các chị buôn chuyến miền Trung sang đây đều ghé quán, về nhà tôi ăn nghỉ luôn, dù gì cũng là người Việt với nhau”. Cách đây 8 năm, quán Cô Vậy chỉ là một tiệm cơm nhỏ với những bộ bàn ghế thấp tè. Biết người Việt xa xứ rất thèm các món đặc sản quê hương, bà Vậy đã thiết kế một thực đơn 3 miền và thay đổi chúng lần lượt trong từng ngày của tuần.

Xem thực đơn, có thể nhận ra món cà pháo mắm tôm của người Bắc, món thịt kho hột vịt dưa giá của người Nam bộ và thịt luộc-tôm chua của “khúc ruột miền Trung”. Quán bán chủ yếu cho khách Việt và công chức Lào từng sang Việt Nam học tập, công tác với giá trung bình 8.000 kíp/dĩa và 15.000 kíp/phần (1.000 kíp tiền Lào= 1.500 VNĐ).

Bốn năm nay, nhờ “trời phật thương” và… truyền khẩu, quán cô Vậy ngày càng đắt hàng, lượng gạo tiêu thụ mỗi ngày vài chục ký lô. Một thực khách đang ăn cho biết: “Tôi ăn xôi nếp của Lào (món truyền thống như món cơm của VN) riết ngán quá nên đến đây một tuần hết bảy ngày rồi. Cách ăn cơm bằng chén, đũa ở trong nước ta coi bình thường vậy chứ sang đây mà gặp một quán cơm Việt thì… trào nước mắt”.

Ở Chămpasăk, chúng tôi thường xuyên được bạn bè Lào và đồng hương Việt kiều đưa đến Sailômdên để cùng nhau nhảy múa, ca hát những bài nhạc đỏ, nhạc tiền chiến VN. Sailômdên tiếng Lào có nghĩa là “Gió mát lồng lộng”, được hiểu đúng theo nghĩa đen của cái nhà hàng ca nhạc sống này, nằm xuôi theo dòng chảy của sông Sê Đôn, quanh năm lộng gió.

Chị Nguyễn Thị Minh Hiếu, một người Việt gốc Huế, đã đặt tên cho cái nhà hàng và hai ban nhạc do chị làm “chủ xị” với cùng một chữ Sailômdên như thế. Chị Hiếu kể: “Tôi mở quán này chủ yếu là để phục vụ Việt kiều tại chỗ, vào ăn uống và hát hò những bài hát Việt thôi. Sau thấy bà con ủng hộ đông quá nên mướn mặt bằng lớn hơn, trung bình có 120 khách đến quán ăn uống và hát mỗi ngày”.

Trục đường chính đi ngang tỉnh là QL 13 nối từ thủ đô Viêng Chăn đến cửa khẩu quốc tế Attapưi (giáp Kon Tum-VN) có rất nhiều người Việt làm ăn, buôn bán. Đến QL 13, chỉ cần hỏi dịch vụ Lan Kham của chị Phạm Mộng Hoa, là có thể được đáp ứng tất cả mọi nhu cầu từ thuê xe, Internet, xe tuk tuk, xe buýt về VN, điện thoại quốc tế... cho đến phở Bắc, hủ tiếu Nam Vang (giá cũng không đắt lắm, 12.000 kíp/tô).

Biết chúng tôi là đồng hương, chị Hoa còn chỉ cách nhắn tin… ít tốn kém và giảm giá dịch vụ Internet. Sang Lào nói chung và Chămpasăk, gặp những con người như thế cũng thấy ấm áp tình quê trong lòng người xa xứ.

  • Một cảnh hai quê

Bài 1:Giữ gìn nguồn cội ảnh 2

Ở Chămpasăk, báo chí Việt là một món quà đặc biệt quý hiếm.

Đó là nỗi niềm của hàng ngàn người Việt trên đất Lào. Việt kiều ở Chămpasăk làm đủ mọi nghề từ mộc, cơ khí, thợ bạc, trồng lúa… Gia đình ông Đoàn Hữu Đấu sinh sống đã mấy đời tại Chămpasăk. Cha ông Đấu là liệt sĩ Đoàn Hữu Quốc, hy sinh tại Lào trong thời kỳ Pháp thuộc ở Đông Dương.

Sau khi Đảng Nhân dân cách mạng Lào thành lập chính quyền cách mạng, ông Đấu được Ban đại diện lâm thời Hội Người Việt mời vào làm việc. Từ đó đến nay đã gần 30 năm, trải qua biết bao nhiêu khó khăn để củng cố cộng đồng người Việt xa quê, ông Đấu đang hiện giữ chức vụ Chủ tịch Hội Người Việt Nam tỉnh Chămpasăk.

Ông Đấu kể những ngày tháng đầu tiên sau giải phóng, các giáo viên Việt kiều phải rất vất vả mới có đủ giáo án (tự soạn bằng cách viết tay) dạy vỡ lòng cho học sinh. “Còn phụ cấp thì chỉ lấy cho có, chủ yếu là bảo tồn tiếng Việt thôi”. Trong gia đình ông Đấu và tất cả các gia đình Việt kiều mà chúng tôi đến thăm, bà con đều sử dụng tiếng Việt để trao đổi và răn dạy con cái.

Ngày Tết cổ truyền, ông Đấu vẫn duy trì phong tục mừng tuổi và nấu bánh chưng, bánh tét. Đó là thời điểm vui nhất ở 8 xóm Việt tại Chămpasăk, nhà ai cũng có thịt kho, dưa hành, riêng ông Đấu còn viết cả câu đối đỏ, ông thích nhất là chữ NHẪN!

Mấy năm gần đây, nhờ sự thông thoáng cả về thủ tục và giao thông, ông Đấu đã có dịp về thăm quê cha đất tổ vài lần. Ông kể: “Năm 2004 đã có 230 Việt kiều từ Chămpasăk về VN, riêng 6 tháng trở lại đây, có 325 người về thăm quê hương do được Chính phủ VN miễn lệ phí nhập cảnh”.

Giọng ông Đấu đang vui chợt chùng lại: “Bọn trẻ bây giờ phải nhập quốc tịch Lào để thuận lợi trong học tập, còn lớp già chúng tôi, vẫn muốn giữ cái gốc, giữ quốc tịch VN thôi”. Ông Đấu, một người con “một cảnh hai quê” vừa được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao VN tặng bằng khen vì đã có “thành tích xuất sắc trong việc xây dựng cộng đồng, ổn định cuộc sống, hướng về Tổ quốc, góp phần phát triển quan hệ hữu nghị giữa VN và Lào”.

Riêng tôi thì nghĩ rằng, chỉ nội cái việc ông Đấu, (hay bà Vậy và rất nhiều Việt kiều khác) cố giữ quốc tịch VN mấy chục năm nay thôi, cũng đủ để trở thành một biểu tượng về gìn giữ cội nguồn trong cộng đồng người Việt xa xứ.

Bài 2: Chân dung triệu phú đất Chămpa  

DƯƠNG MINH ANH

Tin cùng chuyên mục