Cho đến khi tìm gặp được ông rồi trở ra đường bình yên vô sự trên chiếc xe ôm có buộc xích vào vỏ xe để chống trượt và leo dốc, tôi mới ngộ ra chữ “đạo” toát lên từ cách sống của ông. Một lão làng người Bh’noong giữa hun hút đại ngàn.
Nghĩa tình với đất
“Vua quế” Nguyễn Thành Tiêu bên chồi quế tơ, kề sau là rừng quế.
Đất rừng Trà My (Quảng Nam)) được xem là “vương quốc” của cây quế Việt Nam, từ xưa đã được bạn hàng nước ngoài phong cho cái danh hiệu “Trà My cao sơn ngọc quế” đầy trân trọng.
Ở cái vương quốc quế giữa điệp trùng Trường Sơn ấy, Trà Len (Nam Trà My) được xem là vùng quế có chất lượng cao, đến nay đây vẫn là nơi có rừng quế trồng lớn nhất cũng như còn lại nhiều cội quế giống thuần chủng nhất.
Và già làng Nguyễn Thành Tiêu được xem là người có công trong việc duy giữ liền mạch nôi quế Trà Len danh tiếng cho xứ quế Trà My sau những thăng trầm của cây quế. Men theo lối mòn từ nhà ông dẫn lên rừng quế phía núi cao lãng đãng mù sương lúc xẫm chiều, tôi tìm gặp được ông bên luống quế ươm.
“Năm ni mình chỉ trồng chừng ba ngàn cây thôi. Rừng quế mình rộng hung rồi nhưng năm mô mình cũng phải trồng. Người Bh’noong mình mà không trồng quế là có tội với đất đó...”, ông nói, âm giọng chắc như đôi cánh tay ở tuổi gần lục tuần của ông. Trong bóng chiều vắng lặng, giữa rừng quế trùng trùng như cây rừng, trông ông thật ấn tượng.
Ông nói, suốt ba mươi mốt năm nay, chỉ trừ những ngày phải về huyện họp, còn lại, dù bận việc ở xã đến mấy, mỗi ngày ông cũng cố đến thăm qua rừng quế. Thiên nhiên đã ban cho người Bh’noong đất trồng quế nhiều vô hạn, chỉ lo con người lười biếng chứ không lo thiếu đất.
Ông không rõ bà con Kor, Ca-dong, Xê-đăng ở Trà My trồng quế như thế nào, chứ người Bh’noong ở đây thì trồng quế suốt cả một đời người. Năm nào cũng trồng, cây quế trở thành cây của đời người nên không ai ở đây lại đi nhớ cho đến giờ mình đã trồng được bao nhiêu cây quế. Có kẻ trồng nhiều, có người trồng ít, còn ông thì từ lâu đã được cho là người trồng nhiều quế nhất ở Trà My.
Nhiều người gọi ông là “Vua quế”. “Mình nghe nói một hécta trồng được chừng ba ngàn cây quế. Rứa thì rừng quế của mình chừ có ít cũng 20 hécta. Năm mô cũng trồng, năm mô cũng bán, tuổi cây quế trong rừng cũng như tuổi của người trong một cái nhà, có già, có trẻ. Phải bán cây quế già để nuôi cây quế trẻ, cũng như con người, già với trẻ phải dựa vô nhau mà sống...”, ông nói và cười giòn.
Nhưng nói về ông với cây quế không phải nhắm vào chuyện ông trồng nhiều quế, được mang danh hiệu nông dân sản xuất giỏi cấp tỉnh, mà là về tấm lòng của ông đối với chuyện trồng quế của nóc làng. Những năm đầu sau hòa bình, cây quế Trà My như “lên ngôi”, tư nhân, ngoại thương tranh nhau mua tạo nên những cơn sốt quế, và mùa quế mỗi năm trở nên là “mùa vàng” của những kẻ làm ăn. Nhưng người bán quế giữa rừng sâu thì chẳng còn lại gì ngoài việc được say sưa bí tỉ, sắm sửa được một số vật phẩm tiêu dùng từ khoản tiền bán quế rẻ mạt.
Và điều đáng buồn tất yếu phải xảy ra đã xảy ra: chẳng bao lâu những vườn quế đã cạn thưa cây, không còn những cây quế lớn cho hạt. Rồi quế lại tụt giá... Giữa lúc cây quế gặp đầy khó khăn đó, ông vẫn trồng quế như ngày nào, nhờ những cây quế giống được ông giữ lại trước sự vật nài, cám dỗ của lái buôn trước đó. Không chỉ “thuyết phục” suông bà con dù mình đang là cán bộ chủ chốt của xã, ông đã cho họ đến vườn quế mình hái - nhặt hạt về ươm trồng, dù hạt quế những lúc ấy đang có giá. “Phải học cách làm của ông Tiêu.
Ổng không bán quế hết một lượt, lại biết giữ cây quế giống lại để lấy hạt, quế có rẻ giá ổng cũng vẫn trồng. Bởi rứa ổng mới có cái rừng quế rộng hung, năm mô cũng có quế bán, nhà ổng không lúc nào đói cái ăn...”, bà con ở Trà Len nhận ra việc làm của ông. Và họ đã làm theo ông từ mười mấy năm nay - điều không dễ ở những vùng cư dân mà nhận thức còn nhiều hạn chế...
Tình nghĩa với người
Danh “Vua quế” của già làng Tiêu thì kẻ gần người xa biết đến khá nhiều, nhưng tấm lòng của ông đối với những đứa trẻ bất hạnh trong làng thì bên ngoài ít ai biết. “Mình cũng có con nhỏ nên thấy đứa con nít mồ côi bị bỏ đói rách, cái bụng mình chịu không được. Mình có thể nuôi được chúng mà không ráng nuôi là có tội”, ông lý giải tại sao ông đã nhận nuôi một lô những đứa trẻ côi cút, khó nghèo trong xã.
Cái tâm duyên của ông với trẻ mồ côi phát khởi từø năm 1984, khi ông nhận nuôi cậu bé mồ côi cha (được ông đặt tên là Nguyễn Thành Công) chỉ mới hai tuổi, bằng tuổi với đứa con trai đầu của vợ chồng ông. Nhiều người đã chê ông dại gì nuôi để “mẹ thằng nhỏ đi lấy chồng cho sướng” nhưng ông vẫn dỗ vợ ráng nuôi bởi ông đã thấy nhiều đứa trẻ ở bộ tộc Bh’noong của mình đã chết mòn chết mỏi khi người mẹ mang nó về ở với người chồng mới.
Chưa hết khổ với đứa con đẻ và đứa con nuôi còn bé bỏng, năm 1986, ông lại nhận nuôi tiếp cậu bé 2 tuổi (được ông đặt tên Nguyễn Thành Nghĩa) mồ côi mẹ, được người cha đau yếu mang đến gởi gắm. Hai năm sau, ông lại nhận nuôi tiếp một cậu bé mồ côi cha mẹ có tên là Hồ Văn Hoa.
“Chuyện lạ” nuôi trẻ mồ côi ở thung lũng Bh’noong Trà Len khuất giữa bốn bề vách núi vẫn chưa dừng lại trong sự ngạc nhiên của nhiều người, năm 1992, ông lại đón cô bé mồ côi cha Nguyễn Thị Hơn về nuôi khi mẹ cô bé bỏ theo chồng. Những lời chê bai của xóm làng rằng ông đã dại đi chuốc lấy cái khổ của người vào thân tạm lắng một thời rồi đến năm 1997 lại dấy lên, khi ông nhận nuôi cô bé Nguyễn Thị Hằng vốn còn đủ cha mẹ nhưng khó nghèo, muốn tìm đến với ông để được ông cho đi học.
Ngôi nhà ông mới ngày nào chỉ hai vợ chồng son, chỉ mười lăm năm sau đã có đàn con đông đến 12 đứa (7 con đẻ, 5 con nuôi), trong đó có nhiều đứa sàng sàng tuổi nhau. Ông nói đã nuôi là phải nuôi tử tế, con nuôi con đẻ phải thương đều, giống như khi cân quế, cái đòn cân phải nằm ngang không lên không xuống.
Để nuôi cả một đàn con đẻ con nuôi chừng ấy đứa ăn học, vợ chồng ông phải rất vất vả. Những rừng quế dần bị đốn bán đến xơ xác, nhưng vợ chồng ông đã nuôi được đàn con đông ngần ấy một cách đàng hoàng tử tế. “Ở miền xuôi mà có quế như mình thì giàu lắm đó. Nhưng ở đây mà nuôi được chừng nấy con người, làm được cái nhà tôn lớn thì tốn kém nhiều ghê lắm”, ông giải thích tại sao mình có nhiều quế nhưng vẫn không lấy gì làm sung sướng.
Không than vãn khi khó khổ, không kể công khi giúp người, ông nói người Bh’noong không thích nói nhiều về chuyện mình làm. Năm nào ông cũng bán được dăm ba chục triệu đồng tiền quế nhưng rồi vẫn chi tiêu hết. Năm xưa ông ráng mua cái ti-vi có “chảo” (ăng-ten pa-ra-bôn) để “nhà mình coi bà con trong làng cũng được coi”.
Nghe người ta gọi mình là “vua quế” ông thấy cũng vui lòng nhưng khi quế rớt giá, người mua quế không đến, có lúc cái ăn trong nhà chật vật. Nhưng niềm vui luôn ở bên ông khi nghĩ về những gì vợ chồng mình đã làm được. Ông bấm tay kể, nét mặt đầy mãn nguyện : “Thằng Công chừ là trưởng công an xã, đã có vợ con, thằng Nghĩa là chánh văn phòng ủy ban xãõ, thằng Hoa khôn lớn, khỏe mạnh, đã tự lập được, con Hơn, con Hằng đang học cấp hai ở trường nội trú huyện...”.
Tâm nguyện của ông với những đứa bé côi cút vẫn như ngày nào, nhưng mấy năm nay dù ông vẫn “để con mắt, để cái tai ngó chừng, nghe ngóng” vẫn không có đứa trẻ nào để ông đem về nuôi. Ông lại dành manh quần tấm áo, miếng cơm cho những người già cả neo đơn trong xã, ngoài làng.
Cuộc sống nơi thăm thẳm rừng sâu chưa có đường xe thông với bên ngoài, vẫn còn nhiều vất vả, nhưng ông nói ngày ngày ngồi ở xã ngó sang trường học thấy sắp nhỏ, ngó vào văn phòng ủy ban thấy mấy đứa con nuôi của mình, nhìn ra thấy rừng quế xanh ngắt là ông thấy vui, quên mất mọi nỗi buồn, dù khi quế tụt giá.
“Mình làm là vì bà con”, cái tâm đạo đó đã giúp ông không từ nan một việc gì suốt 31 năm nay. Sau tám năm làm bộ đội hậu cần, khi được phục viên sau hòa bình, được trên giao làm giao liên xã là ông nhận ngay. “Trên cần cái sức khỏe của anh bộ đội quen gùi hàng như mình, có khổ mình cũng phải làm”, vậy là ông nhận cái việc phải thường xuyên lội núi băng rừng, mỗi lần về huyện phải đi bộ hai - ba ngày ròng.
Cái tâm đạo đó cũng làm ông thanh thản trong chuyện đòi hỏi quyền lợi cho mình: cho đến nay ông vẫn chưa hề được nhận khoản chế độ nào cho thời gian ở trong quân đội, chỉ hưởng duy nhất đồng lương của một cán bộ xã suốt 31 năm nay - ông hiện là Bí thư Đảng ủy xã.
“Cuối năm 1968 mình vô Quảng Ngãi cõng muối cho đơn vị, bị bom chùm dập. May không hề chi nhưng hai tuần sau mình nghe nhức đầu ghê lắm. Rứa rồi đến đầu năm 1970 mình bị đau mắt, chữa không được, bị hỏng một con. Mình cũng biết chuyện quyền lợi, nhưng để thủng thẳng đã. Mình ít nhiều cũng có được đồng lương làm ở xã mà...”. Và nhìn ông đứng bên bóng núi ngát màu xanh của rừng quế, tôi biết ông thực sự thanh thản.
HUỲNH VĂN MỸ