Một lần tình cờ, tôi gặp anh - một thầy giáo dạy trường khiếm thị (KT) Nguyễn Đình Chiểu. Gặp nhau và mến nhau qua những câu chuyện về học sinh KT. Ngày tôi còn là một cậu sinh viên, trường nơi anh dạy cách trường tôi chỉ một vách tường. Những ngày nghỉ, tôi lang thang sang trò chuyện với các em học sinh KT. Các em kể về anh, một người thầy hết lòng vì học trò. Vượt qua những khó khăn, anh đã có những sáng kiến chế đồ dùng dạy học dành cho học sinh KT. Anh là Nguyễn Duy Quy (1969) - giáo viên Trường KT Nguyễn Đình Chiểu (Đà Nẵng)…
Từ “tam giác đa năng” đến “bảng từ”
Chiếc bảng từ do thầy Quy tự chế để giúp học sinh khiếm thị học môn Hình học.
Ngày mới về Trường KT Nguyễn Đình Chiểu, anh Quy bắt đầu chặng đường gian nan của nghề giáo dạy cho người KT. Từ một người thầy dạy cho học sinh bình thường, về dạy cho học sinh KT, công việc của anh chồng chất bao khó khăn, nhất là việc truyền thụ kiến thức môn học đòi hỏi trực quan như toán hình, hóa học.
Anh nhận ra rằng, với những dụng cụ giảng dạy bình thường thì các em KT không thể nắm bắt được bài giảng. Học “chay”, thầy giảng, trò chăm chú nghe và… tưởng tượng, nhưng các em vẫn không theo kịp.
Các em không thể hình dung được các hình vẽ trong toán học, đâu là tam giác, đâu là tứ giác… cũng như không thể nào tiếp cận được với các nguyên tố hóa học. Sau nhiều trăn trở, anh Quy đã cho ra đời Bảng Hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học “made by Nguyenduyquy” vào năm 2002 bằng giấy xốp và những viên bi xe đạp.
Tiếp sau đó, anh cho ra đời “tam giác, tứ giác, ngũ giác đa năng” được lắp ghép bằng những thanh sắt. “Để làm bảng tuần hoàn, mình phải đi mua những viên bi trước xe đạp cùng keo 502 đính những viên bi đó lên giấy xốp, làm sao cho có kích cỡ vừa phải để các em có thể dễ nhận biết nhất.
Còn với hình học đa năng, mình phải mày mò hàng tháng trời, từ làm mô hình, rồi đến làm với những người thợ hàn để hoàn thiện sản phẩm. Vừa làm vừa phải năn nỉ thì thợ hàn mới chịu làm, vì làm cái này phải tỉ mỉ và tốn công thợ rất nhiều” - anh Quy cười buồn.
Sau một thời gian, các đồ dùng này trở nên “lỗi thời” vì nó chỉ có chức năng cho các em nhận biết một cách thụ động. Anh nghĩ, tại sao mình không dùng những nẹp sắt rồi đính lên đó một chiếc bảng bằng nam châm để các em vừa chủ động lắp ghép hình, vừa dễ nhận biết hình học? Thế là anh bắt tay vào việc.
Anh rong ruổi qua các điểm tập trung phế liệu và các quầy sửa chữa điện tử để “sưu tầm” những cực nam châm cũ, đem về làm bảng từ. Cuối cùng, chiếc bảng từ dành cho trẻ khiếm thị cũng thành công bởi niềm say mê của thầy giáo Quy. Anh cho biết, có lúc anh muốn từ bỏ ý định làm bảng từ vì không tìm ra nam châm. “Nhưng nhìn cảnh các em “lơ ngơ” khi học môn toán hình, mình không chịu được!” - anh Quy cho biết.
Đời không phụ người
Thầy Quy sáng chế đồ dùng dạy học dành cho học sinh khiếm thị. Ảnh: NGUYÊN KHÔI
Chiếc bảng từ ra đời đã “gánh vác” cho anh một phần nặng nhọc trong truyền thụ kiến thức. Nhờ đó, các em dễ dàng hơn khi học môn hình học, môn học mà trước đây dụng cụ học tập của các em chỉ là “tưởng tượng”. Năm 2004, Hội thi đồ dùng dạy học cho học sinh KT toàn quốc được tổ chức tại Nha Trang (Khánh Hòa), được sự cổ vũ, động viên của học trò và đồng nghiệp anh đăng ký dự thi.
Thật bất ngờ, anh đã đạt giải nhất với “Chiếc bảng từ”. “Khi nhận giải nhất, mình vui không kể xiết. Nhưng ngay sau đó, lòng mình chùng xuống bởi suy nghĩ làm sao để những em học sinh KT trường mình, cũng như hàng ngàn em học sinh KT khác trên đất nước mình có được chiếc bảng từ trong tay mà tiện bề học tập” – anh Quy trầm tư.
Hiểu được tâm tư nguyện vọng của anh, có một Việt kiều khi đến thăm trường đã hứa tài trợ cho anh 4 triệu đồng để anh đặt làm 50 chiếc bảng từ cho các em học sinh KT. Và nay, lời hứa đó đã trở thành hiện thực. Em Hoàng Thị Kim Tuyến – học sinh lớp 11/6 của Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền (Đà Nẵng) hồ hởi kể: “Trước đây, em và các bạn gần như “bó tay” với môn toán hình. Khi được học với bảng từ của thầy Quy, bọn em cảm thấy dễ dàng hơn khi tiếp cận môn hình học. Nhờ vậy, tuy em học trung học lớp “hòa nhập” với các bạn sáng mắt, nhưng điểm trung bình môn toán của em bao giờ cũng từ 6,8 trở lên”.
Tốt nghiệp khoa Toán Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Nẵng (nay là Trường ĐHSP Đà Nẵng) năm 1987, Nguyễn Duy Quy được phân công về dạy ở trường làng tại xã Đại Đồng (Đại Lộc, Quảng Nam). Hàng ngày, đạp xe 45km từ nhà đến trường để dạy, gần 10 năm như thế, dù yêu trường, mến trẻ nhưng anh đành giã từ nghề giáo vì lý do sức khỏe.
Nhưng, cái khổ vẫn không thể quật ngã lòng yêu nghề của một giáo viên, anh lại đăng ký học Khoa CNTT Trường ĐHDL Duy Tân do Trường ĐHBK Hà Nội liên kết đào tạo. Tốt nghiệp, được phân công về dạy tại Trường KT Nguyễn Đình Chiểu. “Về trường, cái gì cũng bỡ ngỡ vì mình không biết chữ nổi (chữ braille) và chưa được đào tạo phương pháp dạy chuyên biệt. Thế là mình vừa làm “thầy” để truyền đạt kiến thức, lại vừa làm “trò” của các em để học chữ nổi. Giờ đây, niềm vui bên các em là một phần cuộc sống của mình!” – anh Quy tâm sự.
Trong một lần trò chuyện gần đây cùng anh, tôi hỏi “ước vọng lớn nhất của anh là gì?” anh trầm tư: “Mình ước ngày càng có nhiều dụng cụ học tập dành cho các em hơn nữa để các em đỡ vất vả. Với mình, được góp một phần mang lại “ánh sáng” cho cuộc đời các em, đó là niềm vui”.
NGUYÊN KHÔI