Thuở xưa, khi cha ông ta đi mở đất phương Nam; vùng miền Tây, bên kia sông Hậu còn nê địa sình lầy. Trấn Di - tức vùng Cần Thơ bây giờ chưa phát triển, còn thuộc tỉnh Vĩnh Long (một trong Nam kỳ lục tỉnh). Từ miệt trên xuống, muốn qua bên đó, người ta đi ghe bầu, ghe chài hoặc từ những bến đò ngang vắng vẻ ở Trà Ôn, Cái Vồn, Tân Quới vượt sông bằng những chuyến đò đạp, đò chèo của người dân ngụ cư ở địa phương.
Phà Cần Thơ
Khi Pháp chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây, để khai thác tài nguyên thuộc địa, cùng lúc với việc khơi dòng, đào kênh, họ mở rộng hệ thống giao thông toàn Nam kỳ lục tỉnh; trong đó con lộ huyết mạch nối từ Sài Gòn về miền Tây cũng được khởi công xây dựng.
Vào những năm 20 - 30 của thế kỷ trước, sau khi đào kênh Măng Thít, Xà No, đắp lộ Cái Vồn, Phụng Hiệp, người Pháp xây dựng bến phà Hậu Giang (thường gọi bắc Cần Thơ, bắc Cái Vồn, bắc Bình Minh), vận hành những chuyến phà đốt than, chạy máy hơi nước ngang qua sông Hậu. Những người lớn tuổi ở đây nhớ lại, những chiếc phà đầu tiên ấy nhỏ xíu, chỉ có một đầu, chở được vài chục người với chiếc xe mui rùa (xe ô tô).
Dần dần, người Pháp cải tiến, thay phà chạy máy hơi nước bằng chạy dầu diesel, đưa khách sang sông bằng chiếc phà 10, rồi phà có cái cù lao phía đàng sau, tuy cũng chỉ có một đầu nhưng xe có thể đi vòng lên, khỏi phải de lui như trước. Đến thời Mỹ, những chiếc phà 10 biến mất, thay vào đó là những chiếc phà 50, phà 100 to lớn, chở được cả chục chiếc xe lớn nhỏ và hàng trăm hành khách.
Cả một thời kỳ dài này và cả sau giải phóng, phà chỉ đưa khách ban ngày, không chạy ban đêm. Mãi đến những năm thời kỳ đổi mới, hàng chục chiếc phà to lớn hơn, hiện đại hơn, ngày đêm vận chuyển xe cộ, hàng hóa và hành khách lũ lượt qua sông để kịp đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh chóng của đất nước.
Trải qua gần thế kỷ, dù ở thời kỳ nào cũng không thể phủ nhận vai trò và công lao to lớn của bến phà Hậu Giang đối với sự khai phá, phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long. Làm sao kể hết, trong ngần ấy năm đã có bao nhiêu chuyến phà cần mẫn, lầm lũi vượt sông dù mưa hay nắng, kể cả khi dông gió, lũ lụt thất thường.
Ai thống kê được đã có bao nhiêu chuyến xe nặng oằn hàng hóa, bao nhiêu con người đã ngang qua bến phà Hậu Giang. Bao nhiêu mối tình đẹp đẽ, bao nhiêu lứa đôi đã rước nhau, đưa nhau ngang qua bến sông này.
Và cũng không ít những tác phẩm văn học nghệ thuật ngợi ca bến phà Hậu Giang, như lời một bài hát đã viết: “Em đi mau, kẻo trễ chuyến phà đêm, qua bến bắc Cần Thơ...” hoặc như lời bài ca vọng cổ da diết: “Đêm qua phà Cần Thơ nhìn theo con nước lớn; có dòng nước nào về Chợ Mới để thăm em”.
Có thể nói, bến phà Hậu Giang đã in đậm trong ký ức, tâm tư tình cảm của mỗi người dân vùng châu thổ Cửu Long, cũng như suốt cuộc đời người ta luôn nhớ rơm rạ, khói đốt đồng, con đò, bến sông trước cửa nhà mình vậy.
Nhắc tới bến phà Hậu Giang, người ta không thể không nhớ tới hàng ngàn con người từ bao đời nay gắn bó với nó. Ngay từ những ngày đầu bến phà hoạt động, người Pháp đã thuê người Việt Nam đốt lò, phụ việc, dần dần tham gia vận hành, lái phà, điều khiển, kiểm soát bến phà. Hàng chục rồi hàng ngàn nhân viên qua nhiều thế hệ như thế đã gắn bó với bến phà cả trăm năm nay. Nhiều người từ đời cha truyền lại cho đời con nghề làm sở phà cho đến bây giờ.
Có chứng kiến cảnh nhân viên bến phà dang mình trong trưa hè nắng gắt hay những khi lầm lũi trong mưa gió bão bùng hoặc những đêm co ro trong giá rét để điều khiển, vận hành thông suốt những chuyến phà đưa hành khách sang sông, mau chóng về với gia đình mới thấy thương làm sao đời nhân viên bến phà.
Kể sao cho hết nỗi buồn của những người đưa đò trong những đêm không ngủ khi mọi người chăn êm nệm ấm, những cái tết xa nhà lênh đênh trên sông nước mênh mông. Đó là chưa kể phải chịu đựng những câu nói khó nghe, những ánh nhìn thiếu thiện cảm, bạc bẽo của khách đi đường. Có mấy ai còn nhớ đến công lao cực nhọc của người lái đò đưa khách sang sông.
Cùng với những chuyến phà từ thời Pháp thuộc, bến xe đò, bến xe lôi, người dân mua bán tụ hội về đây đông dần. Hai bên bến phà có hàng ngàn hộ dân sinh sống cùng với hàng ngàn người xung quanh bến phà mưu sinh với đủ thứ nghề khác nhau. Họ cất hàng quán bán cơm, nước giải khát, chạy xe lôi, xe ba gác, xe ôm, khuân vác, bán hàng rong và phục vụ các nhu cầu thiết yếu khác cho khách đi đường.
Tuy đôi khi vì kế sinh nhai, cạnh tranh mua bán, họ làm phiền lòng hành khách, thậm chí gây mất an ninh trật tự, nhưng rõ ràng cũng chính họ đã góp phần làm cho bến phà thêm sinh động.
Tháng 3-2010, cầu Cần Thơ đã được khánh thành nối liền đôi bờ sông Hậu, rút ngắn khoảng cách miền Tây Nam bộ với cả nước. Vai trò lịch sử của bến phà Hậu Giang đã khép lại. Đó là tất yếu khách quan trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Không thể tiếp tục kéo dài quá lâu cái cảnh qua sông thì phải lụy đò, ách tắc giao thông.
Đồng bằng sông Cửu Long muốn phát triển nhanh hơn phải xây dựng hệ thống giao thông hoàn chỉnh, cả đường bộ, đường thủy và đường hàng hải. Đó là cơ hội để hàng hóa nông sản dễ dàng giao thương với bên ngoài, khai thác tiềm năng to lớn của vùng châu thổ Cửu Long trù phú này.
Song, trước một sự kiện lớn, đánh dấu quá trình phát triển đi lên cũng không khỏi chạnh lòng khi một hình ảnh đẹp, hoạt động cũ sắp mất đi.
Trăm năm còn đó bến sông này. Trong niềm phấn khích, vui mừng bên cây cầu mới, hãy dành một chút hoài niệm về một phương tiện vùng sông nước đã vui buồn từ hàng trăm năm qua trên bến sông này - bến phà Hậu Giang. Hơn nữa là nhớ đến hàng ngàn số phận con người gắn bó với bến phà nay phải lìa xa, tìm phương mưu sinh khác.
Hãy dành nhiều tình thương và trách nhiệm có thể để những con người này có cuộc sống vật chất và tinh thần tốt hơn môi trường sống cũ, để họ cũng được hòa cùng niềm vui chung trước sự phát triển đi lên của đất nước.
NGUYỄN SAN