Chủ động lựa chọn dòng vốn chất lượng cao

Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị đã khẳng định vị trí đặc biệt quan trọng của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế quốc gia. Trên cùng mạch tư duy ấy, Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tiếp tục mở rộng tầm nhìn phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.

Đó là tầm nhìn về một nền kinh tế Việt Nam độc lập, tự chủ, hội nhập sâu rộng với thế giới nhưng không lệ thuộc; biết tranh thủ hiệu quả các nguồn lực bên ngoài để bồi đắp nội lực, nâng cao năng lực cạnh tranh và củng cố sức mạnh tự chủ của quốc gia.

Sau gần 40 năm đổi mới, khu vực FDI đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy xuất khẩu, tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đưa Việt Nam tham gia ngày càng sâu vào chuỗi sản xuất toàn cầu. Dù vậy, giai đoạn phát triển mới không cho phép chúng ta chỉ hài lòng với số vốn đăng ký, số lượng dự án hay tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp. Điều quan trọng hơn là dòng vốn ấy mang đến công nghệ gì, tạo ra giá trị gia tăng ra sao, đào tạo được bao nhiêu lao động Việt Nam, kết nối được bao nhiêu doanh nghiệp trong nước và giúp nền kinh tế tiến lên vị trí nào trong chuỗi giá trị toàn cầu. Điểm mới rất đáng chú ý của Nghị quyết 10-NQ/TW là sự chuyển dịch từ tư duy “thu hút vốn” sang tư duy “phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia”. Nói cách khác, Việt Nam không chỉ mở cửa để đón nhận dòng vốn quốc tế mà còn chủ động lựa chọn những dòng vốn phù hợp với mục tiêu phát triển dài hạn của đất nước. Đó phải là dòng vốn chất lượng cao, gắn với công nghệ lõi, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, các trung tâm nghiên cứu, thiết kế, điều hành khu vực và năng lực tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tinh thần đó cũng đặt ra yêu cầu mới đối với các địa phương. Thu hút đầu tư không thể tiếp tục là cuộc cạnh tranh dựa chủ yếu vào ưu đãi đất đai, thuế, chi phí lao động thấp hay những lợi thế ngắn hạn. Năng lực cạnh tranh trong giai đoạn mới phải được tạo dựng từ chất lượng thể chế, hạ tầng đồng bộ, nguồn nhân lực lành nghề, dữ liệu minh bạch, dịch vụ công hiệu quả và khả năng đồng hành thực chất với nhà đầu tư trong suốt vòng đời dự án. Quan trọng hơn, Nghị quyết 10-NQ/TW đặt khu vực FDI trong mối quan hệ hữu cơ với kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước và năng lực tự chủ của nền kinh tế. Dòng vốn nước ngoài chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo được hiệu ứng lan tỏa đối với doanh nghiệp Việt Nam; góp phần hình thành mạng lưới nhà cung ứng nội địa; nâng cao tỷ lệ nội địa hóa; thúc đẩy chuyển giao công nghệ, tri thức quản trị và các tiêu chuẩn quốc tế. Một nền kinh tế khó có thể lớn mạnh nếu doanh nghiệp trong nước chỉ đứng ngoài quan sát các chuỗi giá trị diễn ra ngay trên đất nước mình.

Từ Nghị quyết 68-NQ/TW đến Nghị quyết 10-NQ/TW, thể hiện đường hướng nhất quán tư duy phát triển kinh tế Việt Nam. Nội lực phải được củng cố để làm nền tảng; ngoại lực được huy động như nguồn lực bổ sung quan trọng; thể chế giữ vai trò mở đường; con người là trung tâm của mọi chính sách; còn lợi ích quốc gia - dân tộc luôn là điểm quy chiếu cao nhất của mọi quyết sách phát triển. Việt Nam cần vốn, nhưng không phải bất cứ dòng vốn nào. Việt Nam cần nhà đầu tư, nhưng không chỉ cần những nhà đầu tư đến để tận dụng lợi thế chi phí. Điều đất nước cần là những đối tác cùng phát triển, cùng đổi mới sáng tạo, cùng tạo ra giá trị và cùng góp phần nâng cao vị thế Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Nghị quyết 10-NQ/TW mở ra một cách nhìn sâu hơn về con đường phát triển của đất nước. Việt Nam mở cửa không phải để phụ thuộc mà để mạnh lên từ chính năng lực của mình; hội nhập không phải để hòa tan mà để nâng cao năng lực tự chủ trong một thế giới nhiều biến động; thu hút đầu tư không chỉ để có thêm nguồn vốn mà để doanh nghiệp Việt Nam lớn lên, nền kinh tế Việt Nam bước sang một giai đoạn phát triển có chất lượng cao hơn, sức cạnh tranh mạnh hơn và bản lĩnh hơn.

Tin cùng chuyên mục