Đồng bằng sông Cửu Long có tổng diện tích sản xuất lúa 3,8 triệu ha/năm với sản lượng hơn 20 triệu tấn/năm, chiếm 50% sản lượng cả nước. Đặc biệt, nông dân ĐBSCL làm ra 95% lượng gạo xuất khẩu của cả nước, đưa Việt Nam giữ vững ngôi vị là một trong 3 quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới suốt nhiều năm liền. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), lượng gạo hàng hóa đáp ứng xuất khẩu năm 2011 có thể đạt 7 triệu tấn và tồn kho chuyển sang 2012 ở mức 1 triệu tấn.
Tuy nhiên, các chuyên gia nhận định, vấn đề đang “nóng” hiện nay là việc phân chia lợi ích trong chuỗi giá trị lúa gạo không hợp lý. Sản lượng gạo xuất khẩu lớn nhưng thu nhập người trồng lúa vẫn thấp, thuộc loại nghèo nhất. Theo Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL, lợi nhuận bình quân của người dân trồng lúa chỉ tương đương 316.250 đồng/người/tháng. Trong khi ngưỡng nghèo hiện nay là 400.000 đồng/người/tháng.
Kết quả so sánh mức độ hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của hạt lúa từ ĐBSCL do WB thực hiện cho thấy các nhiệm vụ: ổn định lương thực quốc gia, cải thiện quan hệ quốc tế, khắc phục thiên tai, phát triển giao thương quốc tế… đạt từ 6 đến 10 điểm. Tuy nhiên nhiệm vụ cải thiện thu nhập của nông dân trồng lúa chỉ đạt 5 điểm; cao hơn 1 điểm so nhiệm vụ giảm tác động môi trường (4 điểm), đứng cuối bảng.
Lúa gạo Việt Nam thua kém đối thủ cạnh tranh về chất lượng suốt thời gian dài vì chưa có vùng nguyên liệu đủ lớn để có thể chủ động về sản lượng xuất khẩu. Thực trạng sản xuất lúa gạo hiện nay chủ yếu dưới hình thức nhỏ lẻ, manh mún theo quy mô gia đình, thiếu liên kết. Tình trạng này cản trở rất nhiều đến việc áp dụng cơ giới hóa, phát triển sản xuất lúa tập trung gắn với chế biến; khó áp dụng công nghệ nhằm tăng năng suất, kiểm soát nguồn gốc và chất lượng. Đặc biệt là thất thoát sau thu hoạch rất lớn, khoảng 13,7%, tương đương 635 triệu USD/năm, tác động lớn đến nhập của người trồng lúa…
Các chuyên gia, nhà quản lý đều thừa nhận sự thành công vượt bậc của Việt Nam về lúa gạo. Tuy nhiên, trước giai đoạn mới, sản xuất và xuất khẩu lúa gạo phải thay đổi. Ưu tiên hàng đầu là chính sách đầu tư đáng kể cho lúa gạo, nâng cao chuỗi giá trị. Đặc biệt, để có sản lượng lúa gạo chất lượng cao đủ lớn, làm tiền đề cho việc xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam cần phải nâng cao vị trí người trồng lúa và tập trung quan tâm tới lợi ích của những người trực tiếp làm ra lúa gạo. Vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn là vấn đề chiến lược, hệ trọng của đất nước.
Để xác lập điều đó, ngoài việc tiếp tục đổi mới quy chế điều hành xuất khẩu gạo, tránh tình trạng “phập phù” trong thu mua tạm trữ, xuất khẩu của VFA vừa qua, giải pháp quan trọng được xác định là xây dựng, nhân rộng mô hình tập hợp nông dân sản xuất lúa thành cánh đồng mẫu lớn, áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP, Global GAP; tiến tới hình thành vùng lúa chất lượng cao, quy mô lớn, phục vụ xuất khẩu, nhằm nâng cao chuỗi giá trị lúa gạo. Trong đó, mối liên kết 4 nhà được đặc biệt chú trọng. Sớm đưa nông dân vào các cụm liên kết sản xuất lớn, chấm dứt tình trạng tự bơi. Có như vậy, đời sống người nông dân mới dần được nâng cao như mục tiêu Chính phủ đã đề ra.
Bình Đại