NSƯT Trần Nhu tên thật là Phan Thế Dõng, sinh năm 1927 tại Tiền Giang, tham gia điện ảnh bưng biền khu 8 từ 1949 với nghệ danh Nguyệt Hải. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, học lớp quay phim khóa 1, Trường Điện ảnh Việt Nam năm 1957. Năm 1962 Trần Nhu trở về tham gia xây dựng điện ảnh Giải phóng miền Tây Nam bộ.
Ông là tác giả các phim tài liệu nổi tiếng: “Chiến thắng Gò Quao”, “Du kích Củ Chi”, “Nữ pháo binh Long An”,”Hạt lúa vành đai”… Từng đoạt nhiều giải thưởng lớn trong nước và quốc tế: Bông sen vàng Liên hoan phim VN lần 1, bằng khen LHP Quốc tế Á-Phi tại Tashkent, 1968, bằng khen Leipzig, 1969; giải Apsara vàng Phnom Penh (Campuchia)…
- PV: Thưa NSƯT Trần Nhu, cảm xúc của ông trong những ngày tháng tư lịch sử như thế nào, nhất là vừa rồi ông đã về thăm lại căn cứ điện ảnh giải phóng ở Tây Ninh?
- NSƯT Trần Nhu: Thú thực, nhìn lại một chặng đường lịch sử, chúng tôi mới giật mình vì cảm giác nó qua nhanh đến không ngờ. Từ chuyến “hành hương” thăm lại chiến khu xưa Xa Mát, Lò Gò, anh em chúng tôi thật bồi hồi khi hình dung lại khung cảnh cũ, hình ảnh của những năm tháng sống trong chiến tranh cùng bạn bè, đồng chí. Kỷ niệm thì nhiều lắm, tôi có cảm giác nó như từng khúc phim sống lại trong tâm tư mỗi người…
Cả những kỷ niệm khi đoàn điện ảnh Nam bộ tập kết ra Bắc được trở về chuẩn bị xây dựng và hỗ trợ lực lượng điện ảnh cách mạng miền Nam, cũng tưởng mới ngày nào…
- Ngày ấy tâm trạng của ông và nhóm nghệ sĩ điện ảnh đi B đợt đầu tiên như thế nào khi băng rừng, vượt núi trở lại miền Nam?
- Nói chung tâm trạng chúng tôi lúc ấy vừa vui sướng vừa hồi hộp vì biết công việc và nhiệm vụ về Nam của mình. Tháng 8 năm 1961 đoàn lên đường vượt Trường Sơn. Tôi nhớ đoàn có tất cả 20 người. Đường đi lúc ấy vẫn khá vất vả, gian nan! Khi về đến Khu 5, đoàn tách ra hai nhóm: 10 người do anh Quý Lục làm trưởng đoàn đi về các tỉnh miền Trung; còn 10 người gồm Nguyễn Hiền (Cao Thành Nhơn), Đoàn Bảy, Quốc Dũng, Lê Hà, Xông Pha, Xuân Phong, Trường Sơn, Ba Thạnh, Thành Thật và tôi tiếp tục vào Nam (anh Nguyễn Hiền làm trưởng đoàn). Giai đoạn này cũng có một kỷ niệm sâu sắc với tôi vì bị một trận sốt rét dai dẳng.
Tôi đành phải ở lại trị bệnh, rồi đi sau đoàn. Năm đó tôi đã ăn tết một mình ở giữa rừng. Rất may, giai đoạn gian nan rồi có lúc cũng qua. Sau đó, tôi đuổi kịp đoàn ở miền Đông Nam bộ. Lúc này, anh Nguyễn Hiền đã xây dựng được “cơ ngơi” kha khá bước đầu cho điện ảnh giải phóng. Rồi lực lượng điện ảnh dần dần được tăng cường, phát triển, đào tạo tại chỗ có rồi đến đợt văn nghệ sĩ điện ảnh thứ hai vào Nam hỗ trợ nối tiếp với các anh Mai Lộc, Phụ Cấn, Sáu Của, An Sơn, Vũ Sơn, Hồng Sến, chị Kim Chi…
- Nhắc đến NSƯT Trần Nhu, người xem nhớ đến những bộ phim tài liệu nổi tiếng và đoạt nhiều giải cao như “Du kích Củ Chi”, “Nữ pháo binh Long An”. Những thước phim quý báu này làm thế nào ông đã quay được trong lúc bom, đạn vang rền?
Nghệ sĩ ưu tú Trần Nhu và các nữ pháo binh Long An năm xưa.
- Nếu nói như vậy thì chính những người đang chiến đấu bất kể hy sinh tính mạng mới lạ lùng. Tôi nhớ các anh Phạm Văn Cội, Ba Nì, các chị Trần Thị Gừng, Võ Thị Mô… lúc ấy có sợ gì bom đạn của địch. Họ là những chiến sĩ - dũng sĩ gan dạ anh hùng ở vùng đất thép Củ Chi. Năm 1967, bộ phim “Du kích Củ Chi” ra đời , được công chiếu và được giải cao, có lẽ cũng là niềm khích lệ lớn đối với anh em làm phim. Làm được những điều gan góc trong chiến tranh, có lẽ chúng tôi chỉ nói một lời thật gọn là nhờ tình yêu quê hương và yêu nhân dân của mình.
“Nữ pháo binh Long An” là bộ phim chúng tôi ghi lại những hình ảnh mới về người phụ nữ đồng bằng Nam bộ. Xúc động lắm, phim “Nữ pháo binh Long An” vừa làm xong thì 7 nữ pháo binh trong số ấy đã hy sinh. Tôi không hiểu vì sao ở những cô gái mảnh mai, dáng tầm tầm như vậy mà có thể vác cối 82 ly, vác đạn chạy ngời ngời!
- Những nữ chiến sĩ còn lại…, sau ngày hòa bình có lần nào ông gặp lại họ?
- Có chứ. Cơ hội này một phần nhờ đạo diễn Văn Lê thực hiện bộ phim tài liệu “Thời chiến họ còn rất trẻ”. Vào năm 2003, Văn Lê đã rủ tôi thăm lại những vùng đất mình đã qua, đã quay phim trong thời chiến tranh. Cảnh vật thay đổi nhiều lắm. Điều xúc động là tôi vẫn còn gặp được chị Võ Thị Mô, người phụ nữ này vẫn kiên cường và nhân hậu, tuy cuộc sống có lúc không may mắn, công bằng đối với một nữ du kích anh hùng này.
Khi trở lại Đức Hòa, Đức Huệ, tôi cũng gặp lại các cô pháo binh ngày xưa. Tôi nghĩ Nhà nước phải có trách nhiệm và quan tâm đúng mức đến các nữ pháo binh năm xưa vì chẳng phải trong số họ ai cũng có số phận may mắn, tìm thấy hạnh phúc gia đình.
- Nghe nói trong khi thực hiện phim “Hạt gạo vành đai”, ông và những người làm phim đã có một “kỷ niệm không quên”?
- Lần ấy chúng tôi suýt bị rơi vào tay giặc, nếu như không có một khoảnh khắc may mắn ngẫu nhiên trong đường tơ kẽ tóc như chuyện trong phim. Năm 1967 tôi và anh Lý Minh Văn thực hiện phim này cũng gần vùng đất được mệnh danh “tam giác sắt”, địa bàn gần với Sài Gòn.
Nhiều cảnh quay không lường được khi bom pháo, ruồng bố diễn ra ác liệt. Địch càn tới, tổ quay phim trở tay không kịp, bị lọt giữa vòng vây. Chúng tôi liều mạng “chém vè”! May mà địch không phát hiện, máy móc vẫn bảo đảm được an toàn. Đó cũng là một khúc phim đáng nhớ trong cuộc đời anh em điện ảnh giải phóng chúng tôi.
- Xin cảm ơn ông.
KIM ỬNG