Phát huy “nguồn vốn” văn hóa cho phát triển kinh tế

Chương trình Tổ quốc trong tim tại TPHCM cuối tháng 8-2026 thu hút hơn 60.000 khán giả trực tiếp, tạo hiệu ứng xã hội tích cực. Ảnh: DŨNG PHƯƠNG
Chương trình Tổ quốc trong tim tại TPHCM cuối tháng 8-2026 thu hút hơn 60.000 khán giả trực tiếp, tạo hiệu ứng xã hội tích cực. Ảnh: DŨNG PHƯƠNG

LTS: Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP, hình thành từ 5-10 thương hiệu quốc gia; đến năm 2045, đóng góp khoảng 9% GDP. Trong khi đó, ước tính quy mô và xu hướng các ngành công nghiệp văn hóa hiện đóng góp khoảng 5% GDP, tăng trưởng 7%-8% mỗi năm. Bài toán đặt ra hiện nay, bên cạnh việc chuyển hóa "nguồn vốn" văn hóa thành động lực phát triển, tạo giá trị kinh tế, còn cần bảo đảm gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa bền vững. Phóng viên Báo SGGP đã ghi nhận ý kiến một số chuyên gia về vấn đề này.

* TS Trương Minh Huy Vũ, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM:

Đầu tư cho thiết chế văn hóa để mở rộng nguồn lực phát triển

truongminhhuyvu.jpg
TS Trương Minh Huy Vũ, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM

Việc nhìn nhận văn hóa ngoài đáp ứng đời sống tinh thần, còn là nguồn lực cho phát triển kinh tế là một bước chuyển tư duy chiến lược từ “văn hóa chủ yếu do ngân sách bảo đảm” sang “văn hóa tham gia tích cực và tạo ra giá trị trực tiếp cho tăng trưởng”. Nhưng để nguồn lực này được phát huy, một trong những điều kiện quan trọng là phải có hệ thống thiết chế văn hóa đủ năng lực tạo ra, lưu giữ, lan tỏa và chuyển hóa các giá trị văn hóa thành sản phẩm, dịch vụ.

Với TPHCM, đầu tư cho thiết chế văn hóa cần được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đô thị và công nghiệp văn hóa. Nhà hát, bảo tàng, trung tâm văn hóa, không gian sáng tạo, không gian biểu diễn hay các công trình phục vụ hoạt động văn hóa vừa đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của người dân vừa tạo ra dòng khách, kích thích các hoạt động dịch vụ, du lịch, thương mại và kinh tế sáng tạo.

Tuy nhiên, để mở rộng quy mô đầu tư, ngân sách nhà nước không thể là nguồn lực duy nhất. Do đó, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách để huy động nguồn lực xã hội, trong đó có vốn của doanh nghiệp và khu vực tư nhân. Mô hình hợp tác công - tư (PPP) có thể tạo thêm dư địa cho đầu tư vào các thiết chế văn hóa, đồng thời mở ra phương thức quản lý, vận hành linh hoạt hơn.

Điều quan trọng là phải hình thành được cơ chế để nhà nước giữ vai trò kiến tạo, định hướng và bảo đảm các mục tiêu văn hóa, trong khi xã hội và doanh nghiệp có điều kiện tham gia đầu tư, khai thác và phát triển sản phẩm. Khi các thiết chế văn hóa được tổ chức như những hạ tầng phục vụ sáng tạo, thay vì chỉ là nơi tổ chức hoạt động đơn lẻ, giá trị văn hóa có thể lan tỏa sang nhiều ngành kinh tế khác. Đầu tư cho văn hóa vì vậy không chỉ là đầu tư cho một lĩnh vực riêng biệt mà còn là đầu tư cho năng lực sáng tạo, chất lượng đô thị, du lịch và sức cạnh tranh của TPHCM.

* PGS-TS Phan Anh Tú, Trưởng khoa Văn hóa học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia TPHCM):

Văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh của tăng trưởng

PGS-TS-Phan-Anh-Tú.jpg
PGS-TS Phan Anh Tú, Trưởng khoa Văn hóa học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia TPHCM)

Đối với TPHCM, lợi thế về lịch sử, nét riêng độc đáo văn hóa vùng Nam bộ, di sản đô thị, đội ngũ nhân lực sáng tạo và thị trường lớn tạo điều kiện để phát triển các sản phẩm văn hóa có khả năng cạnh tranh. Di sản, nếu được bảo tồn đồng thời với đổi mới cách tiếp cận, có thể trở thành chất liệu cho điện ảnh, sân khấu, thời trang, thiết kế, truyền thông số, du lịch và các sản phẩm sáng tạo.

Một điểm quan trọng là quá trình chuyển hóa văn hóa thành giá trị kinh tế phải đi cùng với xây dựng con người. Người dân vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là lực lượng tham gia vào quá trình sản xuất, tiêu dùng và lan tỏa các sản phẩm văn hóa. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho quản trị văn hóa, truyền thông số và công nghệ sáng tạo là một phần của chiến lược phát triển kinh tế sáng tạo.

Cùng với đó, TPHCM cần hoàn thiện thể chế, chính sách, cơ chế huy động nguồn lực xã hội và hợp tác công - tư; đầu tư hệ thống nhà hát, bảo tàng, trung tâm triển lãm, không gian sáng tạo; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và tăng cường liên kết vùng. Khi những điều kiện này được kết nối, văn hóa có thể tham gia sâu hơn vào quá trình tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo hướng sáng tạo và bền vững.

* PGS-TS Huỳnh Quốc Thắng, Giảng viên cao cấp Khoa Văn hóa học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia TPHCM), nguyên Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật TPHCM:

Công nghiệp văn hóa tạo giá trị kinh tế và thương hiệu địa phương

PGS-TS-Huỳnh-Quốc-Thắng.jpg
PGS-TS Huỳnh Quốc Thắng, Giảng viên cao cấp Khoa Văn hóa học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia TPHCM)

Theo tôi, với TPHCM, phát triển công nghiệp văn hóa ngoài tạo ra các sản phẩm phục vụ nhu cầu văn hóa, còn có ý nghĩa đối với xây dựng thương hiệu địa phương, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo thêm giá trị kinh tế.

Trong hệ sinh thái này, du lịch văn hóa có vị trí đặc biệt bởi khả năng kết nối nhiều nguồn tài nguyên và ngành kinh tế. Di sản, lễ hội, ẩm thực, nghề truyền thống, không gian văn hóa và các giá trị nhân văn có thể trở thành chất liệu quan trọng để hình thành sản phẩm du lịch văn hóa. Khi được tổ chức phù hợp, một giá trị văn hóa có thể tạo ra chuỗi hoạt động từ bảo tồn, sáng tạo sản phẩm, quảng bá, dịch vụ đến tiêu dùng, qua đó tạo thêm giá trị cho nền kinh tế. Vì vậy, khai thác di sản không nên dừng ở việc đưa khách đến tham quan mà cần gắn với việc hình thành sản phẩm và dịch vụ có chất lượng. Các bảo tàng, di tích, làng nghề, không gian nghệ thuật và địa điểm văn hóa cần được kết nối với hệ thống du lịch, thương mại và dịch vụ.

Cách tiếp cận này còn mở ra khả năng xây dựng thương hiệu đô thị dựa trên những giá trị riêng. Khi văn hóa địa phương trở thành chất liệu của sản phẩm sáng tạo và du lịch, thương hiệu đô thị bên cạnh được nhận diện bằng các công trình, sự kiện, còn gắn với những trải nghiệm đặc trưng. Đây là điểm giao thoa giữa mục tiêu bảo tồn văn hóa và mục tiêu phát triển kinh tế bền vững.

* TS Bùi Văn Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Hà Nội học và đào tạo quốc tế, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội:

Biến di sản từ nguồn lực tĩnh thành động lực của kinh tế sáng tạo

TS-Bùi-Văn-Tuấn.jpg
TS Bùi Văn Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Hà Nội học và đào tạo quốc tế, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội

Di sản văn hóa có thể được nhìn nhận như một dạng “vốn” có khả năng chuyển hóa thành nguồn lực phát triển. Từ một nguồn lực tương đối tĩnh, di sản có thể trở thành nguồn lực động khi được số hóa, kết nối với công nghệ, công nghiệp văn hóa và hệ sinh thái sáng tạo. Những trường hợp như Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám hay làng gốm Bát Tràng… cho thấy di sản có thể được kết nối với nhiều hoạt động sáng tạo và kinh tế khác nhau.

Số hóa không chỉ giúp lưu trữ tư liệu mà còn tạo ra những phương thức trải nghiệm mới. Dữ liệu di sản có thể trở thành nền tảng cho nghiên cứu, giáo dục, truyền thông, thiết kế sản phẩm, du lịch và các hoạt động sáng tạo. Từ đó, giá trị của di sản được mở rộng mà không nhất thiết phải gia tăng áp lực lên không gian vật chất. Một hệ sinh thái di sản số cần kết nối cơ quan quản lý, đơn vị bảo tồn, nhà nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ, nghệ sĩ, nhà sáng tạo và cộng đồng.

Khi các chủ thể cùng tham gia, di sản có thể tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới, hình thành thêm việc làm và thị trường cho công nghiệp văn hóa. Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu cân bằng giữa bảo tồn và khai thác. Giá trị kinh tế chỉ có thể bền vững khi tính xác thực và giá trị văn hóa của di sản được bảo đảm. Vì vậy, chuyển đổi số cần được xem là phương thức nâng cao năng lực bảo tồn và phát huy giá trị di sản, mở rộng khả năng đóng góp của di sản cho kinh tế sáng tạo.

Tin cùng chuyên mục