Sau khi quan hệ ngoại giao được ký kết, Việt Nam dân chủ cộng hòa và Nhật Bản đã xúc tiến khai trương đại sứ quán mỗi nước tại Tokyo, Hà Nội và bắt đầu triển khai một số hoạt động hợp tác song phương.
Khôi phục viện trợ ODA cho Việt Nam
Tuy nhiên, từ năm 1979 trở đi, quan hệ Việt Nam-Nhật Bản đi vào một giai đoạn khó khăn, nguyên nhân không phải do các vấn đề song phương mà là do tình hình khu vực lúc bấy giờ. Lực lượng Khmer đỏ liên tục xâm nhập nước ta, giết hại dã man đồng bào ta ở vùng biên giới, ta buộc phải dùng quyền tự vệ đánh trả Khmer đỏ.
Về sau này, khi các tội ác của Khmer đỏ được thế giới biết rõ thì dư luận càng hiểu và cảm thông với Việt Nam hơn nhưng vào thời điểm đó nhiều người chưa hiểu hành động của ta nên ta đã gặp khó khăn trong quan hệ quốc tế. Trong bối cảnh như vậy, quan hệ Việt Nam-Nhật Bản cũng chịu chung hoàn cảnh.
Về phần tôi, sau khi kết thúc nhiệm vụ đại sứ ở Pháp, tôi trở về Hà Nội năm 1981 làm Vụ trưởng Kinh tế Bộ Ngoại giao và từ năm 1984 là trợ lý Bộ trưởng Phụ trách các vấn đề kinh tế. Thời gian này tôi tham gia nhóm nghiên cứu chống cuộc lạm phát nghiêm trọng của nước ta và tiếp đó làm nhóm trưởng nhóm nghiên cứu chiến lược kinh tế đối ngoại trong chiến lược đổi mới của ta.
Vì vậy, khi được cử sang Tokyo làm đại sứ năm 1988, tôi hiểu rằng sang Nhật Bản công tác lúc này ngoài công việc thông thường của một đại sứ tôi có hai nhiệm vụ hàng đầu: Một là, cùng với phía Nhật tìm ra một lối thoát càng sớm càng tốt cho hợp tác kinh tế giữa hai nước; hai là, tìm hiểu thêm những kinh nghiệm xây dựng kinh tế của Nhật Bản để tham khảo cho việc nghiên cứu chính sách đổi mới của Việt Nam. Đó là hai việc chính mà tôi đã ra sức thực hiện từ năm 1988 đến 1992, mặc dầu thời điểm đó sức khỏe của tôi không tốt - tôi phải xin nghỉ hưu trước khi kết thúc nhiệm kỳ ngoại giao.
Bây giờ nhìn lại tôi rất vui vì thời kỳ hợp tác khó khăn trong kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản đã từng bước kết thúc. Năm 1991 Chính phủ Nhật Bản đã quyết định khôi phục viện trợ ODA cho Việt Nam và từ đó mở ra thời kỳ hợp tác liên tục phát triển cho đến ngày nay.
Những nguồn chất xám quý giá
Nguyên Đại sứ Võ Văn Sung gặp cựu Thủ tướng Tanaka.
Khôi phục lại hợp tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản là kết quả của sự hiểu biết và hợp tác của cả hai bên. Bản thân tôi đã chứng kiến nhiều việc của cả hai bên từ lãnh đạo cho đến các ngành, các cá nhân.
Riêng về phía Nhật Bản tôi không thể quên những hoạt động của nhiều vị chính khách, nghị sĩ, bộ trưởng, lãnh đạo nhiều tập đoàn kinh tế, nhiều ngân hàng, nhiều báo chí chính trị và kinh tế, ví dụ sự tham gia tích cực của các thành viên nhóm nghị sĩ hữu nghị Nhật-Việt do ông Sakurauchi đứng đầu bao gồm hầu hết các chính đảng lớn của Nhật Bản trong Quốc hội.
Tôi cũng đã chứng kiến nhiều cố gắng của một số tập đoàn kinh tế lớn, của các tổ chức hữu nghị Nhật-Việt, mậu dịch Nhật-Việt, giao lưu văn hóa Nhật-Việt… Trong đó, nhiều vị lãnh đạo của các tổ chức này đã nhiều lần sang nghiên cứu giúp đỡ Việt Nam.
Ví dụ, Chủ tịch Công ty Giấy Taio T. Ikawa từ năm 1989 cho đến sau này đã nhiều lần sang nước ta giúp đỡ ngành giấy Việt Nam, cải tiến quản lý và giúp ngành này thoát ra khỏi tình trạng bế tắc lúc bấy giờ. Ông còn tham gia các công trình giúp đỡ thị xã Hội An. T
rên lĩnh vực y tế, bà T. Ichikawa - viện trưởng một bệnh viện lớn ở Tokyo - đã hết lòng xây dựng Bệnh viện tỉnh Bến Tre và một số nơi khác. Tại nhiều địa phương ở Nhật Bản đã có những phong trào tự phát giúp Việt Nam do các bạn Nhật cùng kiều bào khởi xướng, ví dụ Hội Thị dân Nagoya đã có nhiều hoạt động cho Vũng Tàu và TPHCM.
Có thể nói rằng, trong việc góp sức cho quan hệ Việt Nam-Nhật Bản thoát ra khỏi giai đoạn khó khăn đã có công lao của rất nhiều người ở mọi cương vị, mọi lĩnh vực, mọi ngành ở Nhật Bản. Ngay trong lĩnh vực ngoại giao, giữa Đại sứ quán Việt Nam và Bộ Ngoại giao Nhật Bản cũng có quan hệ khá độc đáo. Trong suốt những năm từ 1988 trở đi, Đại sứ quán Việt Nam và Cục Châu Á Bộ Ngoại giao Nhật Bản lúc đó do ông Tanino làm Cục trưởng đã đều đặn duy trì những cuộc trao đổi định kỳ để cùng nhau tìm ra những cách khôi phục quan hệ hợp tác.
Về mặt nghiên cứu kinh nghiệm của kinh tế Nhật Bản phục vụ công cuộc đổi mới của Việt Nam, tôi nhớ rõ có nhiều sự giúp đỡ nhiệt tình của các bạn Nhật Bản, từ các vị chính khách cấp cao đến các nhà nghiên cứu kinh tế. Họ thường xuyên bàn bạc trao đổi với tôi một cách chân tình và qua đó tôi đã gợi ý với lãnh đạo ta nhiều điều để nghiên cứu về đổi mới kinh tế. Nhiều vị cựu thủ tướng cũng đã nhiệt tình giúp tôi và nêu ý kiến về các vấn đề kinh tế vĩ mô, như các cựu Thủ tướng Nakasone, Suzuki, Takeshita…
Ở đây tôi cũng xin nhắc đến sự góp sức của nhiều kiều bào ta trong lĩnh vực kinh tế, đã hoạt động và góp ý kiến với tôi khá nhiều về chiến lược kinh tế của Việt Nam; trong số đó có thể kể đến Tiến sĩ Trần Văn Thọ và Tiến sĩ Nguyễn Trí Dũng.
Tóm lại, đối với tôi, những năm từ 1988 đến 1992 là thời kỳ có nhiều kỷ niệm tốt đẹp, thu nhận được nhiều kiến thức mới và có thêm được nhiều bạn bè Nhật Bản tận tâm và hết lòng với Việt Nam, cũng như có thêm các nhà trí thức và bà con kiều bào đã đóng góp chất xám quý báu cho công việc nghiên cứu chiến lược đổi mới của nước ta .
Võ Văn Sung
(Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản)
- Thông tin liên quan:
>>Bài 1: Câu chuyện 35 năm trước
>>Bài 3: Những người bạn lớn