Sự trở lại của chủ nghĩa kinh tế quốc gia

Sự trở lại của chủ nghĩa kinh tế quốc gia

Thời đại toàn cầu hóa diễn ra cách đây hơn 10 năm, cuốn sách với tựa đề “Thế giới phẳng” cũng đã nói lên xu thế này. Nhưng trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhiều tư tưởng bảo hộ và tư tưởng quốc gia đang trở lại, đe dọa nhiều mặt tích cực của toàn cầu hóa.

Khắp nơi đều “hướng nội”

Sự trở lại của chủ nghĩa kinh tế quốc gia ảnh 1

Chủ nghĩa bảo hộ đang trở lại trong thời buổi suy thoái kinh tế toàn cầu. Trong ảnh: Công nhân Anh đình công đòi ưu tiên việc làm cho người bản địa.

Nếu như thời đại toàn cầu hóa, người ta nói đến dòng lưu thông tự do, không biên giới của sản phẩm và dịch vụ trên nhiều lĩnh vực, kể cả văn hóa thì giờ đây, trong các biện pháp cứu trợ kinh tế khẩn cấp của nhiều nước, dù cho ở hình thức nào đi nữa cũng mang sắc thái của chủ nghĩa quốc gia về kinh tế.

Điều này có nghĩa là các nước đều muốn giữ lại đồng vốn và việc làm trong nước của mình, chống thoát ra ngoài. Các nhà kinh tế cảnh báo nền kinh tế toàn cầu hóa đang bị đe dọa.

Trong kế hoạch cứu trợ 800 tỷ USD chính phủ Mỹ mới đưa ra đã xuất hiện những từ ngữ có thể gọi là “cực đoan” như là kêu gọi người Mỹ dùng hàng của nước Mỹ. Hầu hết ngành xe hơi của các nước đều kêu gọi chính phủ giúp đỡ: Ford, Chrysler, General Motor (Mỹ), Mercedes (Đức), Toyota, Honda (Nhật Bản)…

Chính vì vậy, không lạ gì khi chính phủ phải kêu gọi người dân dùng xe hơi trong nước sản xuất để cứu họ. So với các ngành khác, ngành ngân hàng lại mang “dáng dấp” bảo hộ nhiều nhất. Tại Pháp và Anh, các nhà chính trị đang đổ tiền thuế của dân chúng vào các ngân hàng yếu kém với yêu cầu họ chỉ được cho vay trong nước nhằm hạn chế dòng vốn chảy ra nước ngoài.

Các nhà điều hành tiền tệ cũng đồng quan điểm với các nhà chính trị. Ngay cả Thụy Sĩ, một “ngân hàng quốc tế” - hiện cũng đang có nhiều chính sách ưu đãi cho các khoản vay trong nước.

Nhiều chính phủ cũng đã bảo trợ hàng hóa và vốn nhằm chống thất nghiệp. Trên toàn thế giới, công nhân đang yêu cầu được nhà nước giúp đỡ khi tình hình thu nhập ngày càng bi đát. Những công nhân tại Anh gần đây đã đình công phản đối lao động nước ngoài, họ yêu cầu Thủ tướng Gordon Brown giữ đúng lời hứa “Công việc Anh dành cho người Anh”. Tại Pháp, trong ngày 29-1, hơn 1 triệu người đình công yêu cầu đảm bảo lương và việc làm cho họ. Tại Hy Lạp, cảnh sát đã phải dùng hơi cay giải tán các cuộc biểu tình của nông dân yêu cầu được “bao cấp”.

Cần có những nguyên tắc chung

Tất cả những yếu tố trên diễn ra trong bối cảnh mỗi nước đều “tự cứu mình” sẽ đưa đến nhiều hệ lụy sau này. Vòng đàm phán Doha về tự do thương mại toàn cầu đã bế tắc nay càng bế tắc hơn. Thương mại toàn cầu sẽ giảm lần đầu tiên trong năm 2009 kể từ năm 1982. Dòng vốn lĩnh vực tư nhân chảy vào các thị trường mới nổi trong năm nay dự báo sẽ giảm còn 165 tỷ USD so với đỉnh cao 929 tỷ USD ở năm 2007. Nếu không có các chính sách kịp thời, xu thế toàn cầu hóa sẽ có bước lùi rất lớn trong thế kỷ này.

Các nhà chính trị biết rõ rằng khi họ đóng cửa hoặc mở hé cửa thị trường của mình, chính họ đã gây hại đến hệ thống thương mại toàn cầu và gây hại cho chính họ. Trong một số thời điểm của cuộc khủng hoảng hiện nay, Mỹ cho biết sẽ sẵn sàng cung cấp dollar cho các nước cần và đảm bảo các hợp đồng với đối tác EU trong các ngân hàng được chính phủ Mỹ cứu trợ. Thế nhưng, kế hoạch kích thích chi tiêu gần 800 tỷ USD mới nhất của Mỹ mang đầy màu sắc “quốc gia”.

Nhiều nhà kinh tế dự báo, điều này sẽ gây hại cho chính các nhà xuất khẩu Mỹ và xa hơn nữa ảnh hưởng đến nền chính trị nước này. Thế giới đang hiểu rằng: nhà vô địch của việc mở cửa thị trường đang trở nên khép kín hơn.

Theo tạp chí The Economist, có 3 nguyên tắc để tránh tình trạng bảo hộ trong các gói kích thích kinh tế của các chính phủ.

Thứ nhất là sự phối hợp. Kế hoạch cứu trợ kinh tế của các nước cần được xây dựng dựa trên các nguyên tắc chung cho dù chi tiết có thể có khác biệt. Các kế hoạch kích thích kinh tế nếu được phối hợp tốt hơn sẽ mang lại lợi ích cho nhiều nước khác.

Thứ hai, là nguyên tắc chịu đựng. Kế hoạch kích thích kinh tế của mỗi quốc gia nên tôn trọng việc mở cửa thị trường, tránh cái lợi trước mắt nhưng gây hại lâu dài cho chính mình và cho nhiều nước khác, đặc biệt là không nên hạn chế dòng vốn ra nước ngoài.

Thứ ba là cần một cơ chế đa phương. IMF và các ngân hàng phát triển nên giúp đỡ các thị trường mới nổi thoát tình trạng thiếu vốn. Họ cần có một cơ chế và nguồn lực để thực hiện điều đó. Tổ chức thương mại quốc tế có thể giúp đẩy mạnh hệ thống thương mại bằng cách thúc đẩy các thành viên cam kết tự do thương mại theo đúng tinh thần của vòng đàm phán Doha. Nhưng có điều những nguyên tắc này thành công hay không sẽ phụ thuộc rất nhiều vào Mỹ - nền kinh tế hàng đầu thế giới.

Trong chuyến thăm Anh vừa qua, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã đưa ra cảnh báo chống lại sự xuất hiện của chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu. Trung Quốc đã bác bỏ nhiều ý kiến ở Mỹ nói nước này có “mầm mống bảo hộ mậu dịch” khi đang giữ giá đồng tiền thấp và tiếp tục thặng dư mậu dịch với Mỹ.

HUY QUỐC

Tin cùng chuyên mục