Các đại biểu chung nhận định, trong bối cảnh chi phí logistics tại Việt Nam hiện dao động trong khoảng 16%-18% GDP, cao hơn đáng kể so với mức trung bình toàn cầu là 10%-12%, yêu cầu đặt ra với hệ thống cảng biển hiện nay không chỉ là nâng công suất khai thác, mà còn tăng cường kết nối hạ tầng, logistics và chuyển đổi theo hướng xanh, thông minh.
Gỡ điểm nghẽn sau cảng
Bà Đặng Minh Phương, Chủ tịch Hiệp hội Logistics và Cảng biển TPHCM, cho rằng logistics là “mạch máu” của nền kinh tế, không thể vận hành đơn lẻ và ranh giới hành chính không được trở thành lực cản đối với dòng chảy hàng hóa. Bà chỉ ra 3 điểm nghẽn lớn cần tập trung tháo gỡ: ùn ứ tại các cửa ngõ đường bộ; thiếu hệ sinh thái dịch vụ hậu cần, bến bãi sau cảng Cái Mép - Thị Vải; tiềm năng vận tải thủy nội địa bằng sà lan kết nối với ĐBSCL chưa được khai thác tương xứng. Chủ tịch Hiệp hội Logistics và Cảng biển TPHCM kiến nghị các giải pháp: thiết lập cơ chế điều phối không gian vùng thực chất; phát triển đồng bộ vận tải đa phương thức bộ - thủy - sắt; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; mở rộng liên kết quốc tế và phát huy vai trò của các hiệp hội chuyên ngành trong tư vấn chính sách.
Ở góc độ doanh nghiệp hạ tầng, bà Ngô Thị Thanh Vy, Tổng Giám đốc Công ty CP Cảng quốc tế QTM, cho biết, các hãng tàu và khách hàng quốc tế quan tâm đến tổng thời gian hành trình, chi phí toàn chuỗi, tính minh bạch dữ liệu và độ an toàn của hàng hóa. “Một cảng mạnh chưa chắc tạo nên một chuỗi logistics mạnh, nhưng một hệ sinh thái logistics mạnh chắc chắn sẽ làm cho cảng có lợi thế cạnh tranh hơn”, bà Ngô Thị Thanh Vy nói. Theo bà Vy, kết nối cảng Cái Mép - Thị Vải với các tuyến giao thông huyết mạch như đường Vành đai 3, đường cao tốc Bến Lức - Long Thành và cầu Phước An sẽ mở rộng hậu phương cảng, tạo hành lang đưa hàng hóa từ Tây Nam bộ và các vùng công nghiệp Đông Nam bộ đến cảng nước sâu. Đây cũng là lợi thế để các dự án cảng mới tích hợp ngay từ đầu công nghệ số, tự động hóa, năng lượng sạch, kho bãi thông minh và kết nối với mạng lưới hãng tàu quốc tế.
Biến mạng lưới đối ngoại thành dòng hàng
Cùng với hạ tầng, yêu cầu giảm phát thải carbon từ các thị trường lớn đang đặt ra sức ép ngày càng cao đối với ngành hàng hải. Chuyển đổi xanh trở thành điều kiện để duy trì và thu hút dòng hàng xuất nhập khẩu. Thông qua mạng lưới 88 địa phương kết nghĩa quốc tế, TPHCM có thêm kênh tiếp nhận kinh nghiệm, công nghệ và mô hình quản trị cảng biển tiên tiến.
Ông Tomohide Sato, Phó Thống đốc Vùng Thủ đô Tokyo (Nhật Bản), cho biết, Tokyo đặt mục tiêu giảm 50% phát thải CO2 vào năm 2030, giảm 60% vào năm 2035 và tiến tới Net Zero vào năm 2050. Các giải pháp gồm: ứng dụng pin nhiên liệu hydro cho phương tiện bốc dỡ, phát triển điện mặt trời trên mái kho và lắp đặt hệ thống cấp điện bờ cho tàu viễn dương. Theo hướng này, ông Sato Tomohide nhận định, việc hợp tác quốc tế có thể giúp TPHCM tiếp cận công nghệ, mô hình quản trị và tiêu chuẩn xanh, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống cảng biển trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tại phiên thảo luận, Phó Chủ tịch Thường trực UBND TPHCM Nguyễn Lộc Hà nhấn mạnh định hướng của thành phố là phát triển cảng biển hiện đại và hạ tầng logistics thế hệ mới. Liên kết vùng, hợp tác giữa các địa phương và doanh nghiệp được xác định là hướng đi tất yếu để đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe về phát thải, hướng tới phát triển hàng hải bền vững. Trên cơ sở đó, TPHCM đề xuất hình thành cơ chế hợp tác đa phương giữa các thành phố cảng trong mạng lưới đối tác hữu nghị của thành phố, đồng thời giao các cơ quan chuyên môn tham mưu mô hình và lộ trình triển khai. Đây là bước chuyển từ “kết nối đối ngoại” sang “kết nối kinh tế”, giúp TPHCM phát huy lợi thế của một siêu đô thị biển, củng cố vai trò cửa ngõ hàng hải quốc tế và nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.