Bước đột phá đưa cổ vật hồi hương

Đưa những cổ vật lưu lạc trở về quê hương là hành trình tìm lại những chứng tích của lịch sử, phục hồi những mảnh ghép của ký ức dân tộc và gìn giữ bản sắc văn hóa qua từng thế hệ. 

Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy, điểm nghẽn lớn nhất không nằm ở quyết tâm, mà ở việc thiếu một cơ chế đủ linh hoạt để nắm bắt những cơ hội vốn chỉ xuất hiện trong thời gian rất ngắn của thị trường cổ vật quốc tế.

Screenshot 2026-08-23 042449.png
Ấn vàng Hoàng đế chi bảo - một báu vật hoàng cung của triều Nguyễn đã hồi hương thành công. Ảnh: SGGP

Luật Di sản văn hóa năm 2024 đã đặt nền tảng pháp lý cho việc mua và đưa di vật, cổ vật có nguồn gốc Việt Nam ở nước ngoài về nước, đồng thời khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia và huy động nguồn lực xã hội.

Quỹ Bảo tồn di sản văn hóa Việt Nam theo quy định của Luật Di sản văn hóa cũng là một kênh để thu hút nguồn lực xã hội đóng góp cho hoạt động này. Tuy nhiên, thị trường cổ vật quốc tế vận hành theo tốc độ của những phiên đấu giá, còn việc sử dụng ngân sách phải trải qua nhiều bước từ lập kế hoạch, thẩm định đến phê duyệt.

Khi nguồn kinh phí chưa thể bố trí kịp thời, cơ hội có thể vuột khỏi tầm tay. Không chỉ ngân sách, việc huy động nguồn lực xã hội cũng từng gặp không ít trở ngại. Nhiều doanh nghiệp và nhà sưu tập sẵn sàng chung tay mua lại cổ vật cho Nhà nước nhưng vẫn băn khoăn trước những vướng mắc pháp lý.

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị (ban hành ngày 7-1-2026) về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó có đặt yêu cầu xây dựng cơ chế hiệu quả để mua và đưa những di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia có giá trị tiêu biểu, quý hiếm về nước chính là bước đột phá vượt trội cả về tư duy lý luận lẫn hành động thực tiễn khi giải quyết được vấn đề lớn của thực tiễn nêu trên.

Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam (ban hành ngày 24-4-2026) tiếp tục tạo cơ sở, hành lang pháp lý cho cơ chế chính sách đặc thù này khi quy định rõ “bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm có giá trị theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa, có nguồn gốc Việt Nam ở nước ngoài được bố trí kinh phí kịp thời sau khi Thủ tướng Chính phủ đồng ý chủ trương mua, đấu giá, đưa về Việt Nam”.

Và mới đây, Điều 23 Nghị định số 282/2026/NĐ-CP của Chính phủ (ban hành ngày 14-7-2026) quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội đã tạo cơ chế đặc thù mới cho phép khi phát hiện một cổ vật quý hiếm, có giá trị, có khả năng đáp ứng tiêu chí bảo vật quốc gia, có nguồn gốc Việt Nam, đang ở nước ngoài, cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa ở Trung ương (Bộ VH-TT-DL) sau khi đánh giá, xác định giá trị và tính xác thực, có thể trình Thủ tướng xin chủ trương mua, hoặc đấu giá từ kinh phí sử dụng ngân sách nhà nước. Khi được chấp thuận, kinh phí sẽ được các cơ quan có thẩm quyền xử lý theo từng hồ sơ cụ thể.

Kinh phí chỉ là một bước đột phá trong cả quy trình. Để đưa cổ vật về nước còn cần xác minh nguồn gốc, giám định, xử lý pháp lý, đàm phán và phối hợp ngoại giao.

Điều này đòi hỏi các cơ quan văn hóa, tài chính, ngoại giao, lực lượng thực thi pháp luật và chuyên gia có cơ chế phối hợp chặt chẽ từ sớm, xử lý đồng thời, linh hoạt các phần việc thay vì chờ nhau. Trong đó, cần sớm xây dựng cơ sở dữ liệu về cổ vật Việt Nam đang ở nước ngoài, nhất là những hiện vật quý hiếm, độc bản, có giá trị lớn về lịch sử và văn hóa.

Hợp tác quốc tế cũng đang được đẩy mạnh thông qua Công ước UNESCO năm 1970 và các thỏa thuận song phương, qua đó hỗ trợ xác minh nguồn gốc, ngăn chặn việc chuyển giao trái phép và thúc đẩy hoàn trả hiện vật…

Điều 23 Nghị định số 282/2026/NĐ-CP mở ra cơ chế để Nhà nước chủ động trong việc đưa cổ vật có giá trị của Việt Nam từ nước ngoài trở về. Nhưng cơ chế chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được tổ chức nhanh, phối hợp đồng bộ và chuẩn bị từ sớm, để cơ hội trên thị trường quốc tế được nắm bắt kịp thời, thay vì tiếp tục vuột mất.

Tin cùng chuyên mục