Bài 1: Nạn mại dâm và cưỡng bức lao động
Thế giới đã bước sang thế kỷ 21 với rất nhiều tiến bộ trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Nhưng dường như vẫn còn một lĩnh vực mà thế giới tiến rất chậm, nếu không muốn nói là đang “thụt lùi”: Ở nhiều nơi, các hình thức nô lệ thời hiện đại, nơi con người bóc lột đồng loại của mình, vẫn dai dẳng.
27 triệu người đang sống trong tình trạng nô lệ
Trên thế giới, có những địa danh mà nhiều người biết đến: Rừng Boulogne ở thủ đô Paris nước Pháp, khu đèn đỏ ở thành phố Amsterdam, Hà Lan, khu Geylang ở Singapore, thành phố Surabaya của Indonesia, khu làng Daulatdia ở Bangladesh, làng Svay Pak ở Campuchia...
Trình độ phát triển ở các khu vực này rất khác nhau, quan niệm về cuộc sống và nghề nghiệp của con người ở những nơi này cũng khác biệt. Song có một điểm chung không thể bàn cãi, đó là những khu vực này đều tập trung nhiều phụ nữ đang phải sử dụng thân xác của mình để kiếm sống. Họ là một dạng nô lệ của thời hiện đại.
Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa LHQ (UNESCO), hiện trên thế giới có hơn 27 triệu người - bao gồm đàn ông, đàn bà, trẻ em - đang phải sống trong tình trạng nô lệ, đa số (từ 15 đến 20 triệu) nạn nhân ở Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh và Nepal.
Trong nhiều trường hợp, những nạn nhân bị đối xử giống như những nô lệ trong quá khứ, trở thành hàng hóa trong tay các đường dây buôn người trái phép. Ở nhiều trường hợp khác, tuy không còn bị coi là một loại hàng hóa có thể mua bán, trao đổi hay thuộc sở hữu của một người nào đó, nhưng những “nô lệ” thời hiện đại vẫn bị ép buộc phải thực hiện yêu cầu của “ông chủ”, nếu không sẽ bị đối xử tàn nhẫn, cả về thể xác lẫn tinh thần.
Hai hình thức phổ biến
Trong báo cáo về nạn buôn bán người trên thế giới công bố ngày 12-2-2009, dựa trên số liệu thu thập từ 155 quốc gia trên thế giới, Cơ quan chống ma túy và tội phạm của LHQ (UNODC) cho rằng, hình thức nô lệ hiện đại phổ biến nhất hiện nay là cưỡng bức phụ nữ làm mại dâm (liên quan đến 79% các trường hợp).
Theo báo cáo của UNODC, các nạn nhân của nạn buôn người có nguồn gốc từ 127 quốc gia, đa số ở châu Phi và Đông Âu; điểm đến của các nạn nhân là 137 quốc gia, chủ yếu là các quốc gia Liên minh châu Âu, Bắc Mỹ, các nước vùng Vịnh, Israel, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản. Trớ trêu thay, chính phụ nữ, những người từng một thời là nạn nhân lại quay sang làm người dắt gái và bóc lột thân xác của các phụ nữ khác. Ở Đông Âu hay ở Trung Á, phụ nữ chiếm tới hơn 60% số người bị kết án vì làm “tú bà”.
Một điều đáng chú ý khác, là ngay tại các quốc gia công nghiệp phát triển, cũng có tới 360.000 người phải làm việc như nô lệ, trong đó khoảng một nửa là nô lệ tình dục. Ngay tại Mỹ, Bộ Tư pháp cho biết trong năm 2008, có hơn 1.000 phụ nữ bị buộc phải làm nô lệ tình dục. Phân tích hàng ngàn hồ sơ, Bộ Tư pháp Mỹ nhận thấy nạn buôn người làm mại dâm liên quan tới hơn 3/4 số trường hợp; hơn 1/4 số nô lệ tình dục ở Mỹ là dưới 17 tuổi ; 2/5 là từ 18 đến 24 tuổi.
Hình thức nô lệ hiện đại phổ biến thứ hai là lao động cưỡng bức (khoảng 18%, theo UNODC). Theo báo cáo của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trên thế giới có khoảng 12,3 triệu người bị cưỡng bức lao động, trong đó 2,4 triệu người là nạn nhân của nạn buôn bán người và 2,5 triệu người bị bóc lột sức lao động.
Đáng chú ý, trẻ em chiếm tới số 20% nạn nhân của các hình thức nô lệ thời hiện đại. ILO ước tính trên tổng số 211 triệu trẻ em đang phải làm việc trên thế giới, khoảng 8,4 triệu trẻ em phải chịu các hình thức bóc lột khác nhau như lao động cưỡng bức, gia nhập quân đội, làm mại dâm trẻ em... Do khéo léo và nhanh nhẹn, các em thường bị khai thác để thực hiện các công việc nặng nhọc như gỡ lưới đánh cá, sản xuất các sản phẩm cao cấp, thu hoạch ca cao... LHQ cảnh báo hình thức cưỡng bức lao động trẻ em có nguy cơ gia tăng do cuộc khủng hoảng kinh tế làm gia tăng nhu cầu về các loại hàng hóa giá rẻ.
Bi kịch của thời đại
Nói đến nô lệ, nhiều người nghĩ ngay tới hình ảnh các chuyến tàu vượt Đại Tây Dương trong quá khứ, chở nô lệ và hàng hóa tới các nước phát triển. Nhiều người nghĩ rằng chế độ nô lệ chỉ còn là một vết nhơ trong trong lịch sử nhân loại. Nhưng thực tế cho thấy những biến thái của chế độ nô lệ xưa kia vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay cho dù chế độ nô lệ đã bị xóa bỏ từ lâu (ở Pháp năm 1848, ở Mỹ năm 1865, ở Arab Saudi năm 1962 và ở Mauritania năm 1981) và bị cấm trong các văn bản quốc tế như Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới năm 1948 hay Công ước bổ sung của LHQ về loại bỏ nô lệ, buôn bán nô lệ, các thể chế và tập tục giống như nô lệ năm 1956.
Phải sống trong cảnh nô lệ, các nạn nhân đồng thời mất đi những quyền cơ bản của con người. Đối với những trẻ em bị cưỡng bức lao động, tương lai của các em bị đánh cắp: Không còn cơ hội để vui chơi và học hành, chuẩn bị cho cuộc sống sau này.
Đối với những phụ nữ làm nô lệ tình dục, rủi ro là rất lớn, không chỉ đối với sức khỏe của bản thân mà còn đối với cộng đồng, khi mại dâm là nguồn lây nhiễm nhiều căn bệnh xã hội, đặc biệt là bệnh HIV/AIDS. Nhiều phụ nữ phải sống trong sự ghẻ lạnh, sự phân biệt đối xử của xã hội. Trong một số trường hợp, chính những phụ nữ từng là nạn nhân của nạn buôn người, phải hành nghề mại dâm, đã trở thành những “tú bà” buộc những phụ nữ khác phải bán thân xác của mình để kiếm sống.
Theo LHQ, nhiều chính phủ trên thế giới vẫn tỏ ra dửng dưng trước các hình thức nô lệ thời hiện đại. Cho dù hàng triệu người trở thành nạn nhân của nô lệ thời hiện đại, nhưng họ thường ít được quan tâm, giúp đỡ; còn những kẻ tội phạm vẫn sống ngoài vòng phát luật, không bị trừng phạt.
Giám đốc Cơ quan chống ma túy và tội phạm của LHQ (UNODC) Antonio Maria Costa - người chịu trách nhiệm soạn thảo báo cáo về nạn buôn bán người trên thế giới - phải chua xót thừa nhận: “Thật xấu hổ khi phải viết báo có về tình trạng nô lệ ở ngay thế kỷ 21 này!”.
Bài 2: Những nỗ lực chưa đủ
(SGGP-12G).- Nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng các biện pháp mạnh tay nhằm chống lại nạn buôn người và các hình thức nô lệ thời hiện đại. Tuy nhiên, để cuộc chiến này mang lại hiệu quả, cần thêm nhiều nỗ lực, đặc biệt là thiện chí chính trị của các nước có liên quan.
Những ẩn số của nạn buôn người
Một trong những lý do khiến cho nạn buôn người và các hình thức nô lệ thời hiện đại phát triển là nhận thức của người dân còn thấp. Đa số các nạn nhân đến từ các nước nghèo và các khu vực đang bị khủng hoảng. Với mong muốn tìm được công việc ổn định hoặc một cuộc sống tốt đẹp hơn, rất nhiều người bị rơi vào tay của những kẻ buôn người vô lương tâm, biết cách làm cho họ mờ mắt với những lời hứa hão về một tương lai tươi sáng ở nước ngoài.
Tình trạng này khá phổ biến ở các nước vùng Balkan. Theo một báo cáo của Tổ chức An ninh và hợp tác châu Âu (OSCO), tại các nước có đông người Digan sinh sống như Albania, Macedonia hay Romania, cộng đồng người Digan thường sống tách biệt, có trình độ kinh tế và giáo dục thấp so với mặt bằng chung nên thường được bọn tội phạm để ý. Bọn buôn người thường khai thác trẻ em Digan để ép buộc lao động (bán hoa, rửa kính ô tô, ăn xin...) và làm nghề mại dâm.
Poster chống nạn buôn bán người và các hình thức nô lệ thời hiện đại
Một nguyên nhân khác giải thích sự gia tăng nạn buôn người là khả năng thu lợi nhuận rất cao. Các chuyên gia trong lĩnh vực nhận định việc buôn người mang lại tiền bạc không kém gì buôn ma túy và vũ khí, có thể mang lại lợi nhuận mỗi năm ít nhất 10 tỷ USD.
Riêng ở châu Âu, theo Tổ chức Scelles (tổ chức chống bóc lột tình dục và dắt gái), số phụ nữ hành nghề mại dâm ở châu Âu dao động từ 300.000 đến 1 triệu người, trong đó từ 70% - 80% là nạn nhân của nạn buôn người. Tổng thu nhập từ mại dâm ước tính 3 tỷ euro mỗi năm.
Trong khi đó, buôn người lại không nguy hiểm bằng buôn ma túy hay vũ khí. Sở dĩ như vậy là vì các nạn nhân thường không biết tiếng nước ngoài và phụ thuộc hoàn toàn vào bọn tội phạm, nên dù có bị đối xử tàn nhẫn, cũng không dám đến tố cáo cảnh sát. Phần vì họ lo ngại bị những kẻ buôn người trả thù; phần khác vì lo sợ bị trục xuất về nước do không có đủ giấy tờ hợp lệ. Trong những năm gần đây, nạn buôn người được kích thích bởi nhu cầu ngày càng tăng về lực lượng lao động giá rẻ trong ngành công nghiệp mại dâm, xây dựng, nông nghiệp và phục vụ trong nhà.
Ở một số nước đang phát triển, tình trạng thiếu hiểu biết, thiếu cở sở luật pháp và các tập tục lạc hậu cũng góp phần làm gia tăng các hình thức nô lệ thời hiện đại. Chẳng hạn, tại Afghanistan, đặc biệt là ở khu nghèo ở vùng thôn quê, tình trạng trẻ em bị ép buộc lao động diễn ra ngày càng phổ biến. Nhiều trẻ em bị ép buộc lấy chồng để trả nợ cho gia đình và thường phải chịu đựng bạo lực thể xác, tình dục và tinh thần.
Cũng vì thế, Afghanistan là một trong những nước có tỷ lệ tử vong của bà mẹ và trẻ em cao nhất thế giới. Đáng chú ý, các hình thức nô lệ hiện đại ở Afghanistan được núp dưới các hình thức như cưới xin hoặc công việc gia đình, khiến sự can thiệp của chính quyền trở nên khó khăn.
Còn nhiều bất cập
Thống kê ở nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy số lượng tội phạm bị sa lưới pháp luật ngày càng nhiều, nhưng không vì thế mà nạn buôn bán người suy giảm. Có một nghịch lý là sự gia tăng các vụ kết án không tỷ lệ thuận với sự gia tăng ý thức của người dân về vấn nạn buôn người.
Trong khi đó, tại nhiều quốc gia, chưa có các quy định về luật pháp đủ mạnh để răn đe bọn tội phạm (chiếm khoảng 2/5 các nước nằm trong báo cáo 2007-2008 của Cơ quan Chống ma túy và tội phạm của LHQ - UNODC).
UNODC cũng khẳng định trong những năm gần đây, số lượng các quốc gia áp dụng Nghị định thư của LHQ về chống buôn người (có hiệu lực từ năm 2003) đã tăng gấp đôi, từ 54 nước lên 125 nước trong tổng số 155 quốc gia tham gia ký kết. Tuy nhiên, nhiều nước, đặc biệt là các quốc gia châu Phi vẫn chưa có các phương tiện tư pháp hiệu quả chống lại vấn nạn này.
UNODC cho rằng một lý do khác ngăn cản các nỗ lực chống nạn buôn người và các hình thức nô lệ thời hiện đại trên thế giới là thiếu các cơ sở dữ liệu đáng tin cậy. Do không có dữ liệu ở quy mô quốc tế, UNODC không thể thiết lập các thống kê toàn cầu theo khu vực địa lý hay theo chủ đề. Vì thế, các cơ quan chức năng vẫn chưa có được sự hiểu biết mang tính tổng thể về nạn buôn người và các thủ đoạn của bọn tội phạm.
Nếu so sánh với nạn buôn bán ma túy, rõ ràng thông tin trong lĩnh vực này đầy đủ hơn. Các dữ liệu về nạn buôn ma túy được tập hợp đầy đủ và đa chiều: Thông tin tổng thể (sản xuất, tiêu thụ, buôn bán...) ; các loại ma túy (thuốc phiện, cocaine...) ; các thị trường tiêu thụ (Afghanistan, Colombia, Mỹ, Iran, EU...). Do đầy đủ và tập thành cơ sở dữ liệu, việc trao đổi, tiếp cận thông tin theo vấn đề và từng khía cạnh được thực hiện dễ ràng hơn.
Thực tế cho thấy, nhiều quốc gia đã áp dụng các biện pháp đơn lẻ trong nỗ lực chống nạn buôn người và các hình thức nô lệ thời hiện đại. Chẳng hạn, từ đầu năm 2009, Na Uy áp luật mới quy định những người mua dâm sẽ phải nộp phạt hoặc chịu 6 tháng tù giam, thậm chí là các hình phạt nặng hơn. Sau thời gian đầu áp dụng, số lượng gái làm tiền tại các đường phố ở Na Uy đã giảm.
Tại Hà Lan, chính quyền thành phố Amsterdam công bố kế hoạch đóng cửa 50% các nhà thổ, quán cà phê bán cần sa, cửa hàng phim ảnh khiêu dâm ở các khu phố đèn đỏ. Theo chính quyền thành phố, một số cửa hàng trong phố đèn đỏ đã trở thành vỏ bọc cho tội phạm có tổ chức hoạt động, nên việc đóng cửa một phần các nhà thổ sẽ giúp hạn chế vấn nạn buôn người ở nước này.
Còn tại Pháp, để góp phần chống nạn buôn người và các hình thức nô lệ thời hiện đại, Bộ Nhập cư Pháp khuyến khích các nạn nhân của của nạn buôn người tố cáo những kẻ cầm đầu các đường dây tội phạm. Phần thưởng dành cho các nạn nhân dũng cảm là họ sẽ được cấp thẻ cư trú tạm thời ở Pháp trong vòng 10 năm...
Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng do nạn buôn người mang tính toàn cầu hoặc khu vực, nên các biện pháp đơn lẻ là chưa đủ. Cần những nỗ lực tập thể và thiện chí chính trị rất cao của các nước trên thế giới.
Hà Vy
(SGGP-12G)