Nâng chất lượng sống cho người dân thành phố

Phát triển kinh tế để góp phần xây dựng “nước mạnh”, nâng chất lượng sống để giúp “dân giàu” –đó là nhiệm vụ chủ yếu của chính quyền trong thời bình. Trao đổi với phóng viên báo SGGP, Chủ tịch UBND TPHCM Lê Thanh Hải đã điểm lại một số nét nổi bật về vai trò của chính quyền thành phố trong điều hành phát triển kinh tế, xã hội và quản lý đô thị.

- Phóng viên: Mỗi khi nói về vị thế của thành phố, người ta thường ví von bằng hình ảnh “ đầu tàu kinh tế”. Ở thời điểm này, các “thông số kỹ thuật” của “đầu tàu” ấy ra sao, thưa ông?

- Chủ tịch LÊ THANH HẢI: Dưới sự lãnh đạo của Trung ương, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố với nhiều sáng tạo, tìm bước đi và cách làm đúng đắn đã phấn đấu vượt qua những khó khăn, đưa thành phố không ngừng phát triển, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp đổi mới của đất nước. Đến nay, kinh tế trên địa bàn thành phố đóng góp khoảng 20% GDP của cả nước (ở năm 1995, con số này là 13%), 1/3 tổng thu ngân sách nhà nước, gần 30% giá trị sản lượng công nghiệp, 25% doanh thu khu vực dịch vụ, 40% kim ngạch xuất khẩu…

Thành phố đã tập trung thực hiện nhiều cơ chế, chính sách mới của Đảng và Nhà nước, từ mô hình khu chế xuất – khu công nghiệp đến việc lập thị trường chứng khoán, quỹ đầu tư, các mô hình công ty cổ phần huy động vốn công chúng, các hình thức phát triển của thị trường tài chính rất nhiều, rất đa đạng, các hình thức xã hội hóa đầu tư… Với sự năng động như vậy, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố cao hơn bình quân cả nước khoảng 1,5 lần.

- Để đạt được các con số trên, chính quyền thành phố đã phải rất “vất vả” trong vai trò điều hành?

- Có được những thành quả như vậy, trước hết là nhờ sự năng động, sáng tạo của các tầng lớp nhân dân, của các doanh nghiệp và cả kiều bào ở nước ngoài, dưới sự lãnh đạo của Thành ủy. Về vai trò chính quyền, các cấp chính quyền của thành phố luôn xác định rõ trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước địa phương trong phát triển kinh tế. Nhiều năm qua, thành phố đầu tư có trọng điểm những công trình hạ tầng kỹ thuật để tạo không gian cho kinh tế phát triển.

Ngay từ những năm đầu của thập niên 90, chính quyền thành phố đã tập trung thực hiện công tác quy hoạch và bắt tay vào việc xây dựng các khu công nghiệp – khu chế xuất (đến nay đã có 15 khu, với diện tích đang khai thác khoảng 4.000 hecta), tạo điều kiện cho công nghiệp phát triển, di dời những xí nghiệp đan xen trong khu vực dân cư ra KCN hoạt động và tạo điều kiện thu hút đầu tư nước ngoài. Đối với các doanh nghiệp, chính quyền thành phố thực hiện vai trò là người bảo trợ, hỗ trợ hay là “bà đỡ” cho doanh nghiệp ra đời và phát triển.

Chúng ta đã chủ động, kiên trì thực hiện cơ chế 1 dấu – 1 cửa nhằm giải quyết thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho môi trường đầu tư. Trước những khó khăn của doanh nghiệp, thành phố chủ động thực hiện các vấn đề như đối thoại, tháo gỡ vướng mắc thông qua việc lãnh đạo UBNDTP gặp gỡ định kỳ thường xuyên các doanh nghiệp theo từng ngành, lĩnh vực, lập các tổ công tác liên ngành.

- Còn ở việc định hướng phát triển, lựa chọn chức năng kinh tế của địa phương, sự chủ động của UBNDTP thể hiện như thế nào?

- Có thể nói, thành phố rất quan tâm trong vấn đề đầu tư xây dựng những ngành kinh tế mũi nhọn như Công viên phần mềm Quang Trung, Khu Công nghệ cao, Trung tâm ứng dụng công nghệ sinh học, Khu Nông nghiệp kỹ thuật cao. Mục tiêu hướng tới: sản phẩm kinh tế của TPHCM chủ yếu phải là loại sản phẩm có hàm lượng chất xám cao. Trong bước chuyển dịch này, ngoài những khó khăn -ở cả góc độ quản lý nhà nước lẫn doanh nghiệp- như vấn đề quy hoạch ngành, cơ chế chính sách, năng lực về vốn, về trình độ quản lý…, chính quyền thành phố còn phải giải bài toán về tái cấu trúc các ngành kinh tế trên địa bàn theo hướng giảm dần những ngành thâm dụng lao động, đồng thời tăng dần tỷ trọng các ngành sản xuất có giá trị gia tăng cao.

Vài năm gần đây, thành phố chủ động ký hợp tác với 14 tỉnh, thành phố hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư ra bên ngoài –những nơi có nguồn nguyên liệu, có lao động rẻ, giá đất rẻ. Các chương trình hợp tác này đã đạt nhiều hiệu quả tích cực. Đồng thời, Thành ủy, UBNDTP chủ động chuẩn bị nguồn nhân lực cho các ngành dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp kỹ thuật cao thông qua việc thực hiện các chương trình đào tạo cán bộ quản lý có trình độ cao như chương trình: “300 tiến sĩ, thạc sĩ”, “1.000 giám đốc”…

- Với lượng dân -cả khách vãng lai- trên 7 triệu người, TPHCM được xếp là “siêu đô thị” nhưng điều kiện hạ tầng kỹ thuật lại chưa tương xứng?

Khu đô thị mới Nam Sài Gòn quận 7 đang hình thành góp phần nâng cao đời sống người dân TPHCM. Ảnh: Đ.V.D.

- Thành phố Hồ Chí Minh phát triển trong điều kiện dân nhập cư rất lớn. Trong 5 năm qua, cứ mỗi năm lại tăng cơ học khoảng trên 200.000 người – bằng số dân của một quận trung bình, theo đó đã phát sinh nhiều biến động về quy hoạch và quản lý quy hoạch, về vấn đề nhà đất, về các nhu cầu phúc lợi xã hội… Từ năm 1993, thành phố đã chủ động quy hoạch không gian đô thị, đến 1998 thì điều chỉnh theo hướng mở rộng về cả 4 hướng. Song song với việc mở rộng đô thị mới, chỉnh trang đô thị cũ, hệ thống giao thông kết nối, cấp nước, cấp điện, phân phối nước sạch cũng được tập trung đầu tư.

Thành phố đã vận dụng nhiều cơ chế và giải pháp huy động vốn như đấu giá quyền sử dụng đất; phát hành trái phiếu đô thị; nhà nước và nhân dân cùng làm cầu, đường giao thông; xã hội hóa nguồn vốn đầu tư thông qua chương trình kích cầu đầu tư để phát triển các ngành y tế, giáo dục, văn hóa… Hiệu quả đạt được rất tốt. Ví dụ, ở năm 2003, nguồn cân đối chúng ta có 2.250 tỷ đồng nhưng UBNDTP quyết định bố trí cho đầu tư là 6.000 tỷ; năm 2004 là 10.000 tỷ/2.700 tỷ đồng; năm 2005 là 11.500 tỷ/4.300 tỷ đồng và năm nào chúng ta cũng sử dụng gần hết nguồn tiền đã huy động. Đến nay, 24 quận huyện đều có trung tâm y tế, trung tâm văn hóa – thể thao; 100% phường xã có trạm y tế; số giường bệnh mỗi năm tăng 12%; 100% số xã nông thôn thành phố đã được điện khí hóa; mỗi năm xây dựng mới trên 3 triệu mét vuông nhà ở. Đặc biệt, đã sắp xếp lại chỗ ở cho hơn 15.000 căn hộ lụp xụp mà nổi bật nhất là chương trình kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè và tiếp tục chỉnh trang dọc kênh Tàu Hủ – Bến Nghé.

- Những năm gần đây, UBNDTP đã quan tâm ra sao đến chức năng quản lý đô thị?

- Chúng tôi xác định đó là một chức năng quan trọng và ngày càng quan trọng hơn chức năng quản lý kinh tế. Trong 12 chương trình, công trình trọng điểm của thành phố, đa số là thuộc lĩnh vực dịch vụ đô thị. Cho nên vừa qua, thành phố ngày càng mở rộng phân cấp cho UBND các quận huyện, chủ yếu là ở lĩnh vực quản lý đô thị, công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch... Những năm gần đây, thành phố luôn đưa vấn đề nâng chất lượng sống cho người dân thành các chỉ tiêu phấn đấu của mình: tỷ lệ người dân được cấp nước sạch, tỷ lệ hành khách đi lại bằng phương tiện vận tải công cộng, tỷ lệ 100% phường xã có bác sĩ, diện tích nhà ở…

- Ở lĩnh vực công bằng xã hội, theo ông, thành quả quan trọng mà Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố đã đạt được là gì?

- Thành phố luôn quan tâm thực hiện chủ trương thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng bộ với phát triển các vấn đề văn hóa, xã hội, thực hiện công bằng xã hội. Thành phố đã thành công trong chương trình xóa đói giảm nghèo, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương. Qua 11 năm thực hiện chương trình XĐGN, số hộ nghèo đã được kéo xuống từ 25% còn 0,15%, hoàn thành xóa hộ nghèo -theo tiêu chí của thành phố- sớm trước 2 năm và đề ra tiêu chí mới với mức thu nhập bình quân 6 triệu đồng/người/năm, phấn đấu đến năm 2010 cơ bản không còn hộ nghèo.

Những cuộc điều tra mới đây cho thấy kết quả rất đáng mừng: mức độ phân hóa giữa giàu và nghèo trên địa bàn chúng ta được thu hẹp dần. Có thể nói, chương trình XĐGN đã góp phần rất quan trọng nâng tầng lớp dân nghèo lên. Đó là kết quả những nỗ lực của cả Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố, tạo thêm điểm tựa để chúng ta tiến nhanh tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”.

- Xin cám ơn ông!

PHONG LAN (thực hiện)

Các tin, bài viết khác