Nâng tầm chuyên nghiệp trong “pháo đài” bảo vệ trẻ em

Ngày 24-6, việc ra mắt Ban Bảo vệ Trẻ em và khánh thành Phòng Tham vấn hỗ trợ trẻ em tại Bệnh viện Phụ Sản Nhi Đà Nẵng là lời cam kết về một mô hình bảo vệ trẻ em "một cửa" tích hợp ngay tại tuyến đầu y tế. Bệnh viện đang chuyển mình từ việc chỉ điều trị những vết thương lâm sàng sang việc bảo vệ quyền lợi và phục hồi tâm lý toàn diện cho những “mầm non” dễ bị tổn thương.

Ra mắt Ban Bảo vệ Trẻ em tại Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng. Ảnh: XUÂN QUỲNH
Ra mắt Ban Bảo vệ Trẻ em tại Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng. Ảnh: XUÂN QUỲNH

Tuyến đầu bảo vệ

Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng với quy mô hơn 1.400 giường bệnh, mỗi ngày tiếp nhận hàng ngàn lượt khám chữa bệnh, trong đó không ít là những ca trẻ em có nguy cơ bị tổn thương cao. Theo thống kê từ giai đoạn 2020–2025, bệnh viện đã tiếp nhận và theo dõi 177 trường hợp mang thai và sinh con ở tuổi vị thành niên. Đây là con số báo động, phản ánh một thực trạng phức tạp về bạo lực và xâm hại trẻ em trong khu vực. Bên cạnh đó, các nhóm trẻ em yếu thế như trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ mắc dị tật bẩm sinh hoặc trẻ có cha mẹ không còn khả năng chăm sóc cũng đặt ra gánh nặng lớn về trách nhiệm xã hội cho bệnh viện.

Theo bà Trần Cao Thanh Bình, Phó Trưởng ban Bảo vệ Trẻ em, Trưởng phòng Công tác xã hội – Trưởng phòng Công tác xã hội bệnh viện, trước đây, việc hỗ trợ trẻ em tại bệnh viện chủ yếu thực hiện thông qua sự phối hợp riêng lẻ giữa các khoa phòng, chưa có một quy trình thống nhất từ khâu phát hiện đến theo dõi sau can thiệp. Một hệ lụy nghiêm trọng của cách làm này là trẻ em vốn đã mang gánh nặng sang chấn thường phải kể lại câu chuyện đau thương của mình nhiều lần cho nhiều đầu mối khác nhau, làm gia tăng nguy cơ tổn thương thứ cấp, ảnh hưởng đến tâm lý và hiệu quả hỗ trợ.

Trong khi đó, bà Nguyễn Thị Y Duyên, Chuyên gia Bảo vệ trẻ em (BVTE), UNICEF Việt Nam nhìn nhận, cơ sở y tế thường là nơi đầu tiên nạn nhân tìm đến, do đó nhiệm vụ của ngành y tế không chỉ dừng lại ở khám chữa bệnh mà còn phải là mắt xích chủ chốt trong việc phát hiện sớm và hỗ trợ tâm lý – xã hội.

"Lá chắn" đa chuyên ngành

Để nâng cao hiệu quả bảo vệ trẻ em, Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng đã thành lập Ban Bảo vệ Trẻ em gồm 9 thành viên do BS.CKII Võ Hữu Hội, Phó Giám đốc bệnh viện làm Trưởng ban. Cùng với đó, Phòng Tham vấn hỗ trợ trẻ em do UNICEF tài trợ được đưa vào vận hành như một không gian bảo mật, thân thiện, gần gũi với thiên nhiên, giúp trẻ ổn định tâm lý và cởi mở chia sẻ những tổn thương của mình.

z7970934658642_4b4e54c9a5f09060a48e446aa68f5aad.jpg
Phòng Tham vấn hỗ trợ trẻ em. Ảnh: XUÂN QUỲNH

Bệnh viện áp dụng quy trình bảo vệ trẻ em gồm 5 bước chuẩn hóa. Trẻ được tiếp nhận và xử trí khẩn cấp trong vòng 12 giờ nhằm bảo đảm an toàn; tiếp đó là đánh giá tâm lý – xã hội để xác định nhu cầu về cảm xúc, sức khỏe tinh thần và môi trường chăm sóc. Trên cơ sở đó, các chuyên khoa cùng hội chẩn, xây dựng kế hoạch can thiệp phù hợp với từng trường hợp. Quá trình hỗ trợ được thực hiện đồng bộ giữa điều trị y tế, trị liệu tâm lý và tư vấn pháp lý. Sau xuất viện, trẻ tiếp tục được theo dõi, kết nối với mạng lưới cộng đồng nhằm hạn chế nguy cơ tái bạo lực.

Điểm nổi bật của mô hình là sự phối hợp liên ngành giữa bệnh viện với công an, tư pháp và chính quyền địa phương. Cơ chế này không chỉ bảo vệ trẻ kịp thời mà còn bảo đảm tính pháp lý thông qua việc thu thập, lưu giữ chứng cứ y khoa phục vụ giám định khi cần thiết.

TS.BS Trần Đình Vinh, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng cho rằng, sự ra đời của Ban và Phòng tham vấn là bước ngoặt để hoạt động này trở nên chuyên nghiệp hơn, bài bản hơn, chuyển từ tư duy “chữa bệnh” sang “bảo vệ toàn diện quyền lợi trẻ em”. Đối tượng được hỗ trợ không chỉ là trẻ bị bạo lực, xâm hại mà còn mở rộng đến trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ mắc dị tật bẩm sinh hoặc có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

Kinh nghiệm từ mô hình “Bồ Công Anh” tại Bệnh viện Hùng Vương (TPHCM) càng cho thấy tính cần thiết của cách tiếp cận này. Theo TS.BS Phan Thị Hằng, Phó Giám đốc Bệnh viện Hùng Vương, việc tích hợp các dịch vụ hỗ trợ ngay trong cơ sở y tế giúp rút ngắn thời gian can thiệp, giảm áp lực tâm lý cho nạn nhân và hạn chế tình trạng trẻ phải nhiều lần kể lại câu chuyện bị xâm hại. Sau hơn 3 năm triển khai, mô hình đã tiếp nhận 522 trường hợp, trong đó hơn 90% liên quan đến lạm dụng tình dục và phần lớn nạn nhân đã mang thai khi đến bệnh viện.

DSC03345.JPG
TS.BS Phan Thị Hằng, Phó Giám đốc Bệnh viện Hùng Vương chia sẻ kinh nghiệm. Ảnh: XUÂN QUỲNH

Thực tiễn này cho thấy cơ sở y tế không chỉ là nơi điều trị những tổn thương thể chất mà còn là “cửa ngõ” đầu tiên để phát hiện nguy cơ, bảo vệ trẻ em và kết nối các nguồn lực hỗ trợ.

Theo ThS-BS nội trú Lại Thùy Thanh (Trung tâm Y học phát triển và sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Nhi Trung ương), nhân viên y tế cần lưu ý các dấu hiệu cảnh báo sớm trẻ có nguy cơ bị bạo lực, xâm hại.

Dấu hiệu từ bệnh sử như lời kể của trẻ và người chăm sóc không thống nhất; bệnh sử thay đổi nhiều lần; đưa trẻ đến viện muộn; các chấn thương tái diễn nhiều lần hoặc mức độ tổn thương không tương xứng với lời giải thích.

Dấu hiệu trên cơ thể như xuất hiện nhiều vết bầm ở các vị trí khác nhau; dấu vết bất thường do dây thắt hoặc vật dụng gây ra; bỏng đối xứng; gãy xương ở trẻ chưa biết đi; tổn thương vùng sinh dục, hậu môn; mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục hoặc mang thai ở trẻ vị thành niên nhỏ tuổi.

Dấu hiệu tâm lý - hành vi như trẻ sợ hãi bất thường, dễ giật mình; thu mình hoặc trở nên hung hăng đột ngột; né tránh một người cụ thể; có hành vi tình dục không phù hợp lứa tuổi; xuất hiện biểu hiện lo âu, trầm cảm, tự làm hại bản thân hoặc có ý nghĩ tự sát.

Dấu hiệu từ người chăm sóc như thường xuyên trả lời thay trẻ, không cho trẻ trình bày; từ chối để trẻ được phỏng vấn riêng; quá kiểm soát hoặc quá thờ ơ; thiếu quan tâm đến thương tích của trẻ; gia đình có tiền sử bạo lực hoặc sử dụng chất kích thích.

Theo BS Thanh, chỉ cần xuất hiện một dấu hiệu cảnh báo, nhân viên y tế cần nghĩ đến khả năng trẻ bị bạo lực, xâm hại và thực hiện đánh giá chuyên sâu để có biện pháp can thiệp phù hợp.

Tin cùng chuyên mục