Quá trình đàm phán gia nhập WTO

Việt Nam đã “đấu” được những gì?

Bản báo cáo kết quả đàm phán gia nhập WTO do Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển trình phiên họp thường kỳ của Chính phủ, hôm qua 2-11, cho thấy quá trình đấu tranh – đàm phán rất cam go. Đặc biệt, ta đã đạt được những thắng lợi quan trọng.

  • Tăng lợi thế cho những sản phẩm, lĩnh vực quan trọng

Sau các cuộc đàm phán, đến nay Việt Nam đã hoàn tất các thủ tục gia nhập WTO.

Đối với dệt may, theo Bộ trưởng Trương Đình Tuyển, ta đã đấu tranh để xóa toàn bộ phần nói về dệt may trong báo cáo của Ban Công tác của WTO về việc Việt Nam gia nhập WTO. Theo đó, Hoa Kỳ và các thành viên khác sẽ không được áp dụng hạn ngạch dệt may đối với ta khi ta vào WTO.

Ngoài ra, Hoa Kỳ và các thành viên WTO cũng sẽ không được áp dụng tự vệ đặc biệt đối với hàng dệt may của ta như đã làm với Trung Quốc (kéo dài 7 năm sau khi Trung Quốc gia nhập WTO). Tuy nhiên, theo thỏa thuận riêng với Hoa Kỳ, trong vòng 1 năm kể từ khi gia nhập WTO, nếu có bằng chứng và bị trọng tài ra phán quyết về việc ta vẫn duy trì trợ cấp bị WTO cấm, thì chúng ta sẽ bị Hoa Kỳ tái áp dụng hạn ngạch tối đa 1 năm.

Về cam kết chung cho các ngành dịch vụ, trước hết, công ty nước ngoài không được hiện diện tại Việt Nam dưới hình thức chi nhánh, trừ phi điều đó được ta cho phép trong từng ngành cụ thể (những ngành như vậy không nhiều). Ngoài ra, công ty nước ngoài tuy được phép đưa cán bộ quản lý vào làm việc tại Việt Nam nhưng ít nhất 20% cán bộ quản lý của công ty phải là người Việt Nam. Đây là nội dung rất ít nước mới gia nhập đạt được.

Cuối cùng, ta cho phép tổ chức và cá nhân nước ngoài được mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam nhưng với tỷ lệ phải phù hợp với mức độ mở cửa của ngành đó (thí dụ nếu ngành A, ta chỉ cho phép thành lập liên doanh 49% vốn nước ngoài thì tỷ lệ nước ngoài mua cổ phần cũng không được quá 49%).

Riêng ngân hàng, ta chỉ cho phép nước ngoài được mua tối đa 30% cổ phần. Mặt khác, Việt Nam đồng ý cho phép các doanh nghiệp nước ngoài được thành lập công ty 100% vốn nước ngoài sau 5 năm kể từ khi ta gia nhập WTO để cung ứng các dịch vụ hỗ trợ cho khai thác dầu khí. Tuy nhiên, chúng ta vẫn giữ quyền quản lý các hoạt động trên biển, thềm lục địa và quyền chỉ định công ty thăm dò, khai thác tài nguyên. Ta cũng bảo lưu được một danh mục các dịch vụ dành riêng cho các doanh nghiệp Việt Nam như dịch vụ bay, dịch vụ cung cấp trang thiết bị và vật phẩm cho dàn khoan xa bờ …

Về cam kết trên lĩnh vực dịch vụ phân phối, ta không mở cửa thị trường phân phối xăng dầu, dược phẩm, sách, báo, tạp chí, băng hình, thuốc lá, gạo, đường và kim loại quý cho nước ngoài (được biết Trung Quốc chỉ bảo lưu được thuốc lá và muối). Nhiều sản phẩm nhạy cảm như sắt thép, phân bón, xi măng…, ta chỉ mở cửa thị trường sau 3 năm. Quan trọng nhất, ta hạn chế khá chặt chẽ khả năng mở điểm bán lẻ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (mở từ điểm bán lẻ thứ hai trở đi phải được ta cho phép theo từng trường hợp cụ thể).

Ta đồng ý cho Hoa Kỳ thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài không muộn hơn ngày 1-4-2007. Quan trọng nhất, ta vẫn giữ được hạn chế về mua cổ phần trong ngân hàng Việt Nam (không quá 30%). Đây là hạn chế đặc biệt có ý nghĩa với ngành ngân hàng.

Đối với một lĩnh vực nhạy cảm khác là trợ cấp phi nông nghiệp: chúng ta đồng ý bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp bị cấm theo quy định của WTO (trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa). Tuy nhiên, với các ưu đãi đầu tư dành cho sản xuất hàng xuất khẩu đã cấp trước ngày gia nhập WTO, ta bảo lưu được thời gian quá độ là 5 năm (trừ đối với ngành dệt may). Đây là nội dung mà các nước gia nhập trước ta đều không bảo lưu được.

  • Giảm thuế nhập khẩu từ 17,4% xuống còn 13,4%

Lĩnh vực cũng hết sức gay go trong các cuộc đảm phán là về thuế nhập khẩu. Việt Nam đã đồng ý ràng buộc mức trần cho toàn bộ biểu thuế (10.600 dòng). Mức thuế bình quân toàn biểu được giảm từ mức hiện hành 17,4% xuống còn 13,4%, thực hiện dần trong vòng 5-7 năm. Mức thuế bình quân đối với hàng nông sản giảm từ mức hiện hành 23,5% xuống còn 20,9%, thực hiện trong khoảng 5 năm. Với hàng công nghiệp, mức bình quân giảm từ 16,8% xuống 12,6% thực hiện chủ yếu trong vòng từ 5 đến 7 năm.

Cụ thể, có khoảng hơn 1/3 số dòng của biểu thuế sẽ phải cắt giảm, chủ yếu là các dòng có thuế suất trên 20%. Các mặt hàng trọng yếu, nhạy cảm đối với nền kinh tế như nông sản, xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, ô tô, xe máy… vẫn duy trì được mức bảo hộ nhất định. Những ngành có mức giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc và thiết bị điện – điện tử. Ta đạt được mức thuế trần cao hơn mức đang áp dụng đối với các nhóm hàng xăng dầu, kim loại, hóa chất, phương tiện vận tải.

Về hạn ngạch thuế quan, ta bảo lưu quyền áp dụng với đường, trứng gia cầm, lá thuốc lá và muối. Riêng muối là mặt hàng WTO không coi là nông sản, do vậy thường không được áp dụng công cụ hạn ngạch thuế quan nhưng ta kiên quyết giữ để bảo vệ lợi ích của diêm dân. Đối với 4 mặt hàng này, mức thuế trong hạn ngạch là tương đương mức thuế MFN hiện hành (trứng 40%, đường thô 25%, đường tinh 40-50%, thuốc lá 30%, muối ăn 30%). Mức thuế ngoài hạn ngạch cao hơn rất nhiều.

Tại bản báo cáo trên, Bộ Thương mại kiến nghị công bố kết quả đàm phán gia nhập không muộn hơn ngày 15-11-2006.

K. QUỐC – Q. TRỌNG

Bộ văn kiện gia nhập WTO của Việt Nam, được Ban Công tác phê chuẩn vào ngày 26-10-2006, bao gồm các tài liệu sau:

- Báo cáo của Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO;
- Biểu cam kết về thương mại hàng hóa (bao gồm cam kết về thuế nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan và trợ cấp nông nghiệp);
- Biểu cam kết về dịch vụ thương mại;
- Dự thảo Nghị định thư gia nhập WTO (để Đại hội đồng WTO xem xét và thông qua chính thức).

Các bước tiếp theo để ta chính thức trở thành Thành viên WTO là:

- Đại hội đồng WTO sẽ họp để chính thức thông qua việc kết nạp Việt Nam vào WTO và tiến hành lễ ký văn kiện gia nhập, dự kiến vào ngày 7-11-2006;
- Việt Nam sẽ làm các thủ tục phê chuẩn trong nước. 30 ngày sau khi WTO nhận được thông báo của Việt Nam về việc đã hoàn thành các thủ tục trong nước, Việt Nam sẽ chính thức trở thành thành viên WTO.

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Diễn biến mới nhất dịch viêm đường hô hấp cấp Covid-19

Diễn biến mới nhất dịch viêm đường hô hấp cấp Covid-19

Tính đến 18 giờ ngày 25-10-2020 đã có 43.027.427 ca xác nhận mắc Covid-19, có 1.156.011 ca tử vong trên thế giới (Mỹ: 8.829.951 ca mắc, 230.085 tử vong; Ấn Độ: 7.866.740 ca mắc, 118.593ca tử vong; Brazil: 5.381.224 ca mắc, 156.926 ca tử vong; Nga: 1.513.877 ca mắc, 26.050 ca tử vong). Tại Việt Nam, có 1.168 trường hợp mắc bệnh, trong đó có 1.057 ca đã được chữa khỏi, 35 ca tử vong.