Giáo dục ĐBSCL loay hoay thoát vùng trũng - Bài 1: Đầu tư thấp nhất cả nước

SGGP
LTS: Cùng với cả nước, các trường học ở ĐBSCL cũng đang tất bật cho lễ khai trường vào ngày 5-9. Tuy nhiên, ở những vùng sâu, vùng xa, trường lớp vẫn thiếu trước hụt sau, nơi thừa, nơi thiếu giáo viên. Đây là hậu quả của một quá trình dài thiếu đầu tư đồng bộ!

Mức chi ngân sách địa phương trung bình cho một học sinh mầm non, phổ thông cả nước là hơn 8,372 triệu đồng/năm trong khi đó với ĐBSCL là hơn 7,380 triệu đồng/năm. Như vậy mức chi của ĐBSCL thấp hơn bình quân chung của cả nước là 11,9% (trong đó, thấp hơn bình quân chung của cả nước về chi đầu tư là 8,6%, chi thường xuyên 12,5%). 

Giáo dục ĐBSCL loay hoay thoát vùng trũng - Bài 1: Đầu tư thấp nhất cả nước ảnh 1 Học sinh ĐBSCL đến trường. Ảnh: TẤN THÁI
Khó hiểu bài toán ngân sách

ĐBSCL là vùng kinh tế nông nghiệp trọng điểm, cung cấp trên 50% sản lượng gạo cho quốc gia, 90% sản lượng gạo xuất khẩu, 70% lượng trái cây, 40% lượng thủy sản đánh bắt và 74% lượng thủy sản nuôi trồng của cả nước. Với dân số gần 18 triệu người (chiếm khoảng 22% dân số cả nước), hàng năm toàn vùng đóng góp khoảng 27% GDP của cả nước, thu ngoại tệ khoảng 3 tỷ USD, góp phần bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, gia tăng kim ngạch xuất khẩu cho cả nước, nâng cao đời sống vật chất, tạo cơ hội việc làm cho cư dân ở khu vực nông thôn. Tuy nhiên, điều không ai nghĩ tới là đầu tư từ ngân sách cho giáo dục của vùng này lại thấp nhất cả nước.

Theo số liệu tổng hợp của Kho bạc Nhà nước, giai đoạn 2011 - 2016, chi ngân sách địa phương (tính cả phần ngân sách Trung ương hỗ trợ các địa phương nhưng được quyết toán tại địa phương) cho giáo dục mầm non, phổ thông của cả nước khoảng trên 155.000 tỷ đồng, trong đó tổng chi ngân sách địa phương trung bình/năm (2011 - 2016) cho giáo dục mầm non, phổ thông của các tỉnh ĐBSCL khoảng 24.603,1 tỷ đồng. Như vậy, tổng chi ngân sách địa phương cho giáo dục mầm non, phổ thông của các tỉnh ĐBSCL chiếm 15,9% tổng chi của cả nước (tổng số học sinh của ĐBSCL chiếm 17,5% tổng số học sinh của cả nước, chưa tính đến tỷ lệ học sinh bỏ học thì cao hơn mặt bằng chung của cả nước và tỷ lệ huy động trẻ ra lớp của cấp mầm non thấp).

Phân bổ chi ngân sách địa phương cho các cấp học cũng chưa hợp lý. Một nhà giáo tâm huyết với sự nghiệp trồng người ở ĐBSCL nhận định: Trong khi nguồn ngân sách địa phương chi cho giáo dục thấp thì nguồn vốn Trung ương hỗ trợ các địa phương khu vực ĐBSCL thông qua các chương trình, đề án nói chung chiếm tỷ lệ rất thấp, thấp nhất so với các vùng trong cả nước. Đây là nguyên nhân khiến ngành giáo dục ĐBSCL cứ loay hoay dưới vùng trũng hàng chục năm nay!

Yếu trường lớp, thiếu giáo viên

Theo thống kê, số lượng thừa - thiếu giáo viên từ 13 tỉnh trong khu vực theo định mức năm học 2018 - 2019 thì ĐBSCL còn thiếu 11.637 giáo viên mầm non, 2.583 giáo viên tiểu học, 2.157 giáo viên THCS, 401 giáo viên THPT. Tuy nhiên, toàn vùng cũng thừa 1.686 giáo viên tiểu học, 1.073 giáo viên THCS, 3.579 giáo viên THPT.

Một trong những khó khăn của ĐBSCL hiện nay là giải quyết tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ giữa các bậc học và các địa phương. Cụ thể, giáo dục mầm non hiện còn thiếu 11.637 giáo viên; tiểu học thiếu 2.583 giáo viên, thừa 1.686 giáo viên; THCS thiếu 2.157 giáo viên, thừa 1.073 giáo viên; THPT thiếu 401 giáo viên, thừa 3.579 giáo viên. Về tỷ lệ huy động trẻ mầm non đến trường hiện đạt 53,2%. Số lượng học sinh tiểu học bỏ học chiếm 55,1% số lượng cả nước. Tỷ lệ học sinh chuyển từ tiểu học lên THCS đạt 97,5%, thấp hơn bình quân chung cả nước 1,5%.

Giáo dục ĐBSCL loay hoay thoát vùng trũng - Bài 1: Đầu tư thấp nhất cả nước ảnh 2 ĐBSCL còn không ít những ngôi trường có cơ sở vật chất khó khăn như thế này. Ảnh: TẤN THÁI
ĐBSCL có tỷ lệ phòng học/lớp học, tỷ lệ phòng học kiên cố hóa bình quân thấp nhất cả nước. Đối với giáo dục mầm non, để ĐBSCL có điều kiện về phòng học và thiết bị dạy học ngang bằng cả nước cần đầu tư bổ sung 2.400 phòng học, cải tạo, nâng cấp 2.100 phòng học, trong đó chưa tính đến số lượng phòng học còn thiếu khi huy động trẻ đến trường bằng với mặt bằng chung của cả nước.

Theo Bộ GD-ĐT, hiện các tỉnh ĐBSCL có 2.029 trường mầm non (trong đó 1.816 trường công lập, ngoài công lập là 213 trường); tỷ lệ trung bình phòng học/lớp là 0,82 (cả nước là 0,96); quy mô trung bình của một cơ sở giáo dục mầm non là 11,3 nhóm, lớp/trường (cả nước là 12,8).

Tổng số trường tiểu học là 3.101 trường (trong đó, công lập là 2.947 trường, ngoài công lập là 154 trường); tỷ lệ trung bình phòng học/lớp là 0,89 (cả nước là 0,93); quy mô trung bình của một trường tiểu học là 17,9 lớp/trường (cả nước là 18,7). ĐBSCL hiện có 117 trường phổ thông có nhiều cấp học (chủ yếu là tiểu học và THSC), số trường công lập là 103, ngoài công lập là 14 trường; tỷ lệ trung bình phòng học/lớp là 0,65; quy mô trung bình là 25,6 lớp/trường.

Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia ở ĐBSCL (đến năm 2019): Cấp mầm non đạt 35,2%, thấp hơn tỷ lệ cả nước 6%; cấp tiểu học đạt 41,3%, thấp hơn tỷ lệ cả nước 15%; cấp THCS đạt 40,2%, thấp hơn tỷ lệ cả nước 8%; cấp THPT đạt 26,3%, thấp hơn tỷ lệ cả nước 5%. 

Ở bậc tiểu học, để ngang bằng mức trung bình của cả nước, ĐBSCL cũng cần đầu tư mới khoảng 900 phòng học, cải tạo, nâng cấp khoảng 4.300 phòng học; bậc THCS cần đầu tư cải tạo, nâng cấp khoảng 1.857 phòng học; bậc THPT cần đầu tư cải tạo, nâng cấp khoảng 223 phòng học. Đó là chưa nói tới số phòng học bộ môn cần đầu tư mới và đầu tư trang thiết bị dạy học. Số học sinh tiểu học được học 2 buổi/ngày đạt 63,45% (cả nước đạt trên 80%), chưa có tỉnh nào trong khu vực đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi cấp độ 3. Do địa hình sông nước, kênh rạch, đi lại không thuận lợi nên ĐBSCL còn là khu vực có số điểm trường nhiều nhất cả nước (gần 6.000 điểm trường) và là khu vực duy nhất có điểm trường ở cấp THPT. Bài toán sắp xếp, trường lớp đang đặt ra cấp thiết với khu vực này để nâng cao chất lượng giáo dục và chuẩn bị triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới.

Cụ thể, năm học 2018 - 2019, toàn tỉnh Kiên Giang vẫn còn thiếu hơn 600 giáo viên, trong đó chủ yếu là giáo viên mầm non. Đây là tỉnh được đánh giá thiếu giáo viên nhiều nhất trong khu vực ĐBSCL. Ông Ninh Thành Viên, Phó Giám đốc Sở GD-ĐT tỉnh Kiên Giang, cho biết: “Giáo viên mầm non thiếu nhưng lại không tuyển được do nguồn đầu vào; lương thấp nên nhiều người không dự tuyển về làm việc ở các huyện”. Trong khi đó, ngay Cần Thơ là thành phố trực thuộc Trung ương, năm học này vẫn thiếu 396 phòng học để đảm bảo 1 phòng/lớp, 48 trường còn thiếu các phòng chức năng, thiếu khoảng 218 giáo viên tiểu học để đảm bảo 1,5 giáo viên/lớp.

Để đáp ứng Chương trình giáo dục phổ thông mới, các địa phương đang tập trung đầu tư nguồn nhân lực, vật lực. Tuy nhiên, việc dạy học 2 buổi/ngày cũng là một thách thức đối với địa phương có tỷ lệ phòng học/lớp còn thấp, tỷ lệ giáo viên/lớp chưa đáp ứng yêu cầu. Ở ĐBSCL, những tỉnh có tỷ lệ học sinh học 2 buổi/ngày thấp gồm: Cà Mau (48,7%), Trà Vinh (48,3%), An Giang (48,3%)…

NHÓM PV

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Hướng nghiệp - tuyển sinh

Khủng hoảng ngành sư phạm

Vài năm gần đây, bên cạnh tuyển sinh khó khăn, ngành sư phạm cũng gặp nhiều vấn đề “ảm đạm” như điểm đầu vào thấp, giáo viên bị sa thải ở nhiều địa phương, sinh viên không có việc làm… 

Giáo dục hội nhập

“Khát” chuẩn kiểm định ABET

Năm 2014, lần đầu tiên Trường ĐH Bách khoa TPHCM (ĐH Quốc gia TPHCM) có 2 ngành đạt chuẩn kiểm định ABET, nay Việt Nam có thêm 2 trường ĐH và một trường cao đẳng (CĐ) có 6 ngành đạt chuẩn kiểm định này. Từ nay đến năm 2020, rất nhiều trường đặt mục tiêu có ngành đạt chuẩn kiểm định trên. Vậy chuẩn kiểm định ABET có giá trị như thế nào mà nhiều trường khao khát đến vậy? 

Văn hay chữ tốt

Giải thưởng võ trường toản

Học bổng nguyễn văn hưởng

Cô gái Khmer vào giảng đường y khoa

Xuất thân từ gia đình nghèo dân tộc Khmer của tỉnh Sóc Trăng, nhưng bằng ý chí và nghị lực, tân sinh viên y khoa Danh Diễm Trinh đã không ngừng phấn đấu để thực hiện ước mơ trở thành một bác sĩ giỏi.

Giải thưởng tôn đức thắng