Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng họp từ ngày 24 đến ngày 27-6-1991.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII thông qua Cương lĩnh, vạch ra những quan niệm và phương hướng cơ bản về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thông qua chiến lược ổn định và phát triển kinh tế, xã hội đến năm 2000. Khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng; tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện Việt Nam.
Đại hội VII đã bước đầu nêu lên mô hình chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta phấn đấu xây dựng là một xã hội: Do nhân dân lao động làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển cá nhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau, cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 146 ủy viên. Hội nghị lần thứ nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã bầu Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 13 ủy viên. Đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.
Đại hội VII là “Đại hội trí tuệ - đổi mới, dân chủ, kỷ cương - đoàn kết”.
Đại hội VII có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, không chỉ quyết định những nhiệm vụ chính trị nặng nề trước mắt, mà cả con đường, bước đi của cách mạng nước ta trong những thập niên tiếp theo. Đó là quyết tâm đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, con đường mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
Sau Đại hội VII, tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến phức tạp. Các nước XHCN ở Đông âu và Liên Xô lần lượt sụp đổ. Các thế lực thù địch ráo riết tìm mọi cách chống phá cách mạng nước ta. Trước những khó khăn, thách thức mới, các hội nghị Trung ương khóa VII có nhiều nghị quyết lịch sử trong tình hình cụ thể. Hội nghị Trung ương III, tháng 6-1992, đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười đã trình bày vấn đề Thời cuộc hiện nay và nhiệm vụ của chúng ta.
Hội nghị tập trung thảo luận 3 vấn đề quan trọng: Tình hình thế giới và chính sách đối ngoại; củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia; đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Hội nghị xác định mục tiêu đổi mới và chỉnh đốn Đảng là nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phù hợp yêu cầu khách quan của cách mạng nước ta trong tình hình mới, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, bảo đảm thực hiện có kết quả các nhiệm vụ chính trị do Đại hội VII đề ra, trong đó trọng tâm là kinh tế, làm cho dân giàu, nước mạnh, giữ vững ổn định chính trị.
Từ sau Đại hội VII, đường lối đổi mới của Đảng được phát triển toàn diện, đồng bộ hơn và ngày càng khẳng định trong thực tế góp phần đưa đất nước vượt qua khủng hoảng kinh tế-xã hội; ổn định chính trị trên con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Tổng Bí thư Đỗ Mười gặp gỡ đại biểu dân tộc ít người dự
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng.