Điểm nhấn sâu sắc nhất của Nghị quyết 80-NQ/TW là việc xác lập văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần hay động lực phát triển, mà còn là một "hệ điều tiết" cho tiến trình phát triển. Sau nhiều năm ưu tiên tăng trưởng, mở rộng thị trường, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh, đất nước đã đạt được những thành tựu quan trọng.
Song, cùng với đó là không ít biểu hiện đáng lo ngại như: lệch chuẩn giá trị, bạo lực ngôn từ, xuống cấp trong văn hóa ứng xử, sự lấn át của thị hiếu dễ dãi trong môi trường truyền thông số... Khi những vấn đề này ngày càng bộc lộ rõ, vai trò điều chỉnh của văn hóa trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết để giúp xã hội phát triển hài hòa, giữ vững bản sắc, củng cố niềm tin và bồi đắp phẩm giá con người.
Từ góc nhìn đó, Nghị quyết 80-NQ/TW có thể xem như một “la bàn giá trị” trong kỷ nguyên mới. Văn kiện này nhắc lại một chân lý tưởng như quen thuộc nhưng thường bị xem nhẹ rằng, phát triển không thể chỉ đo bằng các chỉ số kinh tế, mà phải được đánh giá bằng chất lượng con người và mức độ văn minh của xã hội... Trên tất cả, văn hóa chính là yếu tố tạo nên bản lĩnh dân tộc, giúp đứng vững trước biến động, biết tự làm mới mà không đánh mất mình.
Nghị quyết 80-NQ/TW thể hiện rõ tinh thần đổi mới khi thiết kế lại cách tiếp cận đối với phát triển văn hóa. Trong thời gian dài, chúng ta quen với mô hình bảo tồn và phát huy, coi văn hóa như một kho tàng cần gìn giữ. Cách tiếp cận đó vẫn đúng, nhưng chưa đủ trong bối cảnh hiện nay. Nghị quyết đã mở ra một bước chuyển quan trọng sang tư duy bảo tồn gắn với phát triển, đặt văn hóa vào chuỗi giá trị của nền kinh tế sáng tạo, kết nối với thị trường, công nghệ và các mô hình kinh doanh mới. Văn hóa vì thế không chỉ là di sản để trân trọng, mà còn là tài nguyên để sáng tạo, sản xuất và hình thành các sản phẩm có sức cạnh tranh…
Nghị quyết đặt ra những mục tiêu cụ thể cho phát triển công nghiệp văn hóa, như: hình thành các tập đoàn công nghiệp văn hóa, khu và cụm sáng tạo, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, nâng tỷ trọng đóng góp của công nghiệp văn hóa trong nền kinh tế. Việc xây dựng thương hiệu quốc gia trong các lĩnh vực điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, thiết kế hay thời trang không chỉ nhằm mục tiêu kinh tế, mà còn mang ý nghĩa văn hóa sâu xa. Đó là cách đưa bản sắc Việt Nam ra thế giới bằng ngôn ngữ toàn cầu của thời đại số.
Văn hóa là lĩnh vực sáng tạo, mà sáng tạo luôn cần không gian thử nghiệm. Quản lý cứng nhắc sẽ kìm hãm năng lượng sáng tạo, trong khi buông lỏng dễ dẫn tới lệch chuẩn. Quản trị văn hóa hiện đại vì thế cần dựa trên chuẩn mực rõ ràng, hậu kiểm minh bạch, trách nhiệm cụ thể và tinh thần đối thoại. Khi Nhà nước đóng vai trò kiến tạo hệ sinh thái, doanh nghiệp sẽ mạnh dạn đầu tư, nghệ sĩ yên tâm sáng tạo, công chúng được thụ hưởng nhiều hơn và xã hội có thêm sức đề kháng trước những nhiễu loạn giá trị.
Song song với đó, nghị quyết nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện trong một môi trường văn hóa nhân văn và lành mạnh. Đây là công việc vừa cấp bách vừa lâu dài. Trong kỷ nguyên số, việc hình thành nhân cách và hệ giá trị không thể chỉ đặt lên vai gia đình, mà cần sự phối hợp của giáo dục, truyền thông, các thiết chế văn hóa và chính sách công. Xây dựng môi trường văn hóa tích cực trên không gian mạng đòi hỏi cách tiếp cận mới, chú trọng nâng cao năng lực số, đạo đức số và văn hóa số, đồng thời hoàn thiện cơ chế quản trị nền tảng và bảo vệ các nhóm dễ tổn thương...
Có thể khẳng định, khi văn hóa được đặt đúng vị trí của một "hệ điều tiết", Việt Nam có thể phát triển nhanh mà không mất chiều sâu, hội nhập sâu mà không đánh mất bản sắc, hiện đại hóa mạnh mẽ nhưng vẫn giữ được cốt cách Việt Nam tự tin, nhân văn.