Tái cấu trúc quy trình sản xuất
Đến thời điểm này, điện ảnh Việt chưa có phim chiếu rạp nào được tạo ra hoàn toàn bằng AI, nhưng công nghệ này đã hiện diện ở nhiều công đoạn. Dấu ấn rõ nét nhất là 2 dự án Chốt đơn (đạo diễn: Bảo Nhân, Namcito) và Mãi nợ một lời tạm biệt (Jordan Schulz) khi AI được sử dụng để thay thế hình ảnh diễn viên sau những vấn đề pháp lý.
Điều này cho thấy AI đang trở thành một công cụ và giải pháp quản trị rủi ro, thay vì buộc ê-kíp phải quay lại với chi phí lớn và nguy cơ chậm lịch phát hành.
AI cũng đang góp phần mở rộng không gian sáng tạo điện ảnh. Đạo diễn Phạm Vĩnh Khương đã thử nghiệm sản xuất phim bằng AI qua các tác phẩm: Chạm, Lời nguyền ánh trăng. Hay 2 phim hoạt hình Dế Mèn: Cuộc phiêu lưu tới xóm Lầy Lội (Mai Phương) và Trạng Quỳnh nhí: Truyền thuyết Kim Ngưu (NSƯT Trịnh Lâm Tùng) cũng ứng dụng AI trong một số khâu như: phát triển ý tưởng, xây dựng tạo hình nhân vật, tổng hợp dữ liệu.
Phim Quỷ nhập tràng (Pom Nguyễn) dùng AI để sáng tác và biểu diễn ca khúc chủ đề. Nhiều dự án khác cũng dùng AI để thiết kế poster, hình ảnh quảng bá…
Sự xuất hiện của những cuộc thi như Chánh Phương AI Film Competition hay Huyền thoại Việt qua lăng kính AI (do Hiệp hội Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam phối hợp Quỹ Hỗ trợ sáng tạo văn học nghệ thuật Việt Nam phát động) cũng cho thấy AI đang tham gia nhiều hơn vào hệ sinh thái điện ảnh.
Theo đạo diễn Charlie Nguyễn, AI đang phát huy hiệu quả rõ nhất ở khâu hậu kỳ. Những lỗi như lọt người vào khung hình, bối cảnh chưa đạt hay thiếu sáng đều có thể xử lý nhanh hơn, giảm đáng kể nhu cầu quay lại. Quan trọng hơn, AI giúp mở rộng biên độ sáng tạo khi giúp biên kịch, đạo diễn hình dung những đại cảnh hoặc bối cảnh phức tạp mà trước đây thường bị giới hạn bởi kinh phí.
Các nhà làm phim trong nước đang sử dụng những công cụ AI được Hollywood hoàn thiện, nên nhiều tính năng có sẵn sẽ sớm được tận dụng để giảm chi phí sản xuất, như dựng storyboard (bảng phân cảnh), quản lý dữ liệu, xử lý âm thanh hay đồng bộ khẩu hình diễn viên.
Ở góc nhìn khác, TS Vũ Hoài Nam, Trưởng Bộ môn AI ứng dụng, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông và nhà phê bình phim Nick M (Mai Như Ngọc), Phó Giám đốc TV360, đều cho rằng, AI còn sở hữu tiềm năng lớn ở các khâu tiền kỳ, sản xuất và phát hành.
“Ở khâu phát hành, AI có thể hỗ trợ dịch thuật, phụ đề, lồng tiếng và xử lý dữ liệu… từ đó mở thêm cơ hội đưa phim Việt tiếp cận các thị trường quốc tế”, nhà phê bình phim Nick M bổ sung.
Theo PGS-TS Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật, thể thao và du lịch Việt Nam, thực tế AI đã và đang làm thay đổi cấu trúc vận hành của điện ảnh trong nước. Nếu trước đây, điện ảnh vận hành theo logic tương đối ổn định: sáng tạo - sản xuất - phát hành - lưu trữ, thì nay trong môi trường số, tác phẩm tiếp tục tồn tại dưới dạng dữ liệu có thể được tái sử dụng, xử lý và lưu thông độc lập với tác phẩm gốc.
Trong khi đó, bà Trịnh Thị Thủy Liên, Tổng Giám đốc VinStudio, khẳng định, AI không còn là một khái niệm công nghệ, mà đã tác động trực tiếp đến chi phí sản xuất, năng lực cạnh tranh, giá trị tài sản trí tuệ và tương lai của ngành điện ảnh.
Rõ quy định về dữ liệu và bản quyền
Việc AI mở rộng khả năng sáng tạo cũng tạo ra những khoảng trống pháp lý. Theo luật sư Hoàng Hà, Đoàn Luật sư TPHCM, Việt Nam hiện có những nền tảng pháp lý liên quan đến AI, như: Luật Trí tuệ nhân tạo 2025, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025, Nghị định 142/2026/ NĐ-CP (quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Trí tuệ nhân tạo)… Tuy nhiên, những quy định dành riêng cho AI trong hoạt động điện ảnh vẫn chưa đầy đủ.
“Theo tôi, khoảng trống lớn nhất là việc xác định tác giả và chủ sở hữu đối với kịch bản, hình ảnh, âm nhạc hoặc cảnh phim được tạo ra bằng AI. Pháp luật đã khẳng định tác giả phải là con người nhưng chưa có tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ sáng tạo của con người khi sử dụng AI”, luật sư Hoàng Hà đặt vấn đề.
Theo luật sư Hoàng Hà, Đoàn Luật sư TPHCM: “Trong điện ảnh, nên công khai rõ ràng mức độ sử dụng AI trong sáng tạo kịch bản, hình ảnh, giọng nói, diễn viên số; tái tạo người đã qua đời hoặc chỉnh sửa sự kiện, nhân vật có thật đến mức khán giả có thể nhầm là tư liệu chân thực. Tuy nhiên, minh bạch không đồng nghĩa phải công bố mọi thao tác kỹ thuật. Yêu cầu công khai phải tương xứng, đồng thời bảo vệ bí mật công nghệ và quyền sáng tạo. Quan trọng nhất, việc thông báo sử dụng AI không làm giảm trách nhiệm của nhà sản xuất. Con người vẫn phải chịu trách nhiệm về bản quyền, tính xác thực, quyền hình ảnh và tác động của tác phẩm đối với khán giả”.
Bên cạnh đó, liên quan đến việc sử dụng phim, kịch bản, giọng nói hoặc hình ảnh có bản quyền để đào tạo AI mới được điều chỉnh ở mức nguyên tắc, chưa rõ cơ chế xin phép, trả tiền, từ chối khai thác và chứng minh nguồn dữ liệu. Pháp luật cũng chưa quy định cụ thể về việc tạo “diễn viên số”, tái tạo khuôn mặt, giọng nói của nghệ sĩ, kể cả người đã qua đời; phạm vi đồng ý, thời hạn sử dụng, quyền rút lại sự đồng ý và thù lao...
Theo GS Hồ Tú Bảo, Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán, sự xuất hiện của “diễn viên số”, “con người số” là biến đổi rất lớn, đặt ra câu hỏi ai sẽ sở hữu khuôn mặt, giọng nói, phong cách diễn xuất. Điện ảnh vì thế sẽ trở thành chiến trường lớn của quyền dữ liệu và tài sản trí tuệ.
Ở góc độ quản lý, ThS Phạm Thị Kim Oanh, Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả, chỉ ra 2 thách thức lớn. Thứ nhất, với dữ liệu đầu vào, xung đột pháp lý phát sinh khi các tập đoàn công nghệ thực hiện hành vi quét và lưu trữ các tác phẩm điện ảnh có bản quyền vào kho dữ liệu huấn luyện mà không xin phép, không ghi nhận danh tính tác giả và không trả bất kỳ khoản phí tác quyền nào cho chủ sở hữu hợp pháp.
Thứ hai, việc định vị pháp lý cho các sản phẩm do AI tạo ra liệu có đủ điều kiện để xác lập quyền tác giả? Trả lời theo hướng nào cũng kéo theo nhiều hệ quả pháp lý, đòi hỏi phải xây dựng các bộ tiêu chí định lượng mới, bóc tách rạch ròi giữa hành vi “sử dụng công cụ” và “máy tính tự sáng tạo”.
"Đối với ngành điện ảnh Việt, AI vừa mang đến cơ hội rút ngắn khoảng cách về công nghệ, kỹ xảo với các cường quốc điện ảnh, vừa đặt ra bài toán sinh tồn về việc bảo vệ bản sắc và tài sản trí tuệ quốc gia trên không gian số. Khung pháp lý về quyền tác giả không nên và không thể vận hành theo tư duy cấm đoán công nghệ, mà phải đóng vai trò là một “bệ đỡ” cân bằng. Một mặt, giữ vững nguyên tắc tối cao là tôn vinh và bảo vệ lao động trí tuệ đích thực của con người. Mặt khác, kiến tạo một hành lang đủ cởi mở, minh bạch để khuyến khích các doanh nghiệp tự tin đầu tư, ứng dụng các thành tựu khoa học mới nhất", ThS PHẠM THỊ KIM OANH, Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả.
Thực tế, Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc hay Anh đều đang giới hạn phạm vi bảo hộ đối với các sản phẩm do AI tạo ra. Theo TS Bùi Thị Bích Liên, giảng viên Luật, Trường Đại học FPT, Việt Nam cũng đứng trước bài toán tương tự khi các tác phẩm có sự tham gia của AI vẫn nằm trong “vùng xám”, tiềm ẩn rủi ro tài chính lớn cho các doanh nghiệp.
Ở góc độ doanh nghiệp, bà Trịnh Thị Thủy Liên cho rằng, nếu dữ liệu sáng tạo bị khai thác để huấn luyện AI mà không có cơ chế cấp phép và chia sẻ giá trị, động lực đầu tư vào sáng tạo sẽ bị suy giảm.
Nhìn nhận xa hơn, GS Hồ Tú Bảo cảnh báo, điều điện ảnh cần tránh không phải là có hay không sử dụng AI, mà là không để AI tác động theo hướng xóa bỏ giá trị con người. AI có thể là công cụ rất mạnh, nhưng chắc chắn không thể có được tầm nhìn, không có quan điểm về thế giới, không có trải nghiệm sống để đưa vào nghệ thuật. Trong kỷ nguyên AI, giữ được vị trí của con người trong sáng tạo mới là ranh giới quan trọng nhất.