Bảo vật quốc gia Tam Quan Đại Đế: Giữ hiện vật là giữ ký ức của vùng đất

Bộ tượng gốm men nhiều màu Tam Quan Đại Đế thuộc sưu tập của ông Lê Thanh Nghĩa, Chủ tịch Hội Cổ vật TPHCM, vừa được công nhận là Bảo vật quốc gia (đợt 14). Đây là hiện vật đầu tiên thuộc nhóm tượng thờ của dòng gốm dân gian Nam bộ, từ hệ thống lò gốm Cây Mai được ghi danh ở cấp độ cao nhất. Phóng viên Báo SGGP có cuộc trao đổi với ông Lê Thanh Nghĩa về những giá trị đặc biệt của bộ tượng và câu chuyện gìn giữ ký ức văn hóa phương Nam.

* PHÓNG VIÊN: Thưa ông, cơ duyên nào đưa ông đến với bộ tượng gốm men nhiều màu Tam Quan Đại Đế?

* Ông LÊ THANH NGHĨA: Trước khi tôi sưu tầm, bộ tượng được thờ trong một gia đình tại xã Lục Sĩ Thành, tỉnh Vĩnh Long. Khi tiếp cận hiện vật, tôi nhận thấy đây không chỉ là một bộ tượng thờ thông thường mà là một sưu tập hoàn chỉnh, nguyên gốc, còn đầy đủ đơn nguyên, điều rất hiếm gặp đối với tượng gốm thờ Nam bộ.

Qua nghiên cứu, đối chiếu tư liệu khảo cổ học và các công trình chuyên ngành, Hội đồng giám định và Hội đồng thẩm định thống nhất xác định bộ tượng thuộc dòng gốm Sài Gòn xưa, niên đại cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, được sản xuất tại lò gốm Bửu Nguyên ở khu vực đường Lò Gốm (quận 6 trước đây), thuộc không gian đô thị Sài Gòn - Chợ Lớn.

* Điều gì làm nên giá trị độc bản và nổi bật của bộ tượng này so với các tượng thờ khác?

* Thứ nhất, đây là bộ tượng thờ bằng gốm men nhiều màu, loại hình rất hiếm trong truyền thống tượng thờ Nam bộ vốn chủ yếu làm bằng gỗ, đất hoặc đá. Sự xuất hiện của tượng thờ gốm men vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX phản ánh bước phát triển mới của nghề gốm Sài Gòn, đặc biệt là hệ thống lò gốm Cây Mai.

Thứ hai, bộ tượng còn lưu giữ hiệu đề “Bửu Nguyên tạo” và “Đề Ngạn phụ”, xác nhận rõ lò sản xuất và địa điểm chế tác. Đây là tư liệu trực tiếp, có giá trị khoa học cao, góp phần định danh chính xác nguồn gốc hiện vật. Thứ ba, bộ tượng hoàn chỉnh, nguyên vẹn tương đối, từng được sử dụng trong thực hành tín ngưỡng thờ Tam Quan Đại Đế. Nội dung biểu tượng mang đậm dấu ấn Đạo giáo nhưng tạo hình lại có sắc thái bản địa hóa rõ nét, thể hiện gương mặt, thần thái gần gũi với cư dân Nam bộ.

* Về mặt kỹ thuật và nghệ thuật, bộ tượng thể hiện trình độ nghề gốm Sài Gòn ra sao?

* Bộ tượng cho thấy trình độ tổ chức sản xuất thủ công rất cao. Phần thân tượng được nặn tay bằng kỹ thuật dải cuộn, kết hợp các chi tiết đắp nổi bằng khuôn in rồi gắn chắp. Cách làm này vừa bảo đảm quy mô lớn, vừa giữ được độ tinh xảo và tính thống nhất.

Men vàng (dân gian gọi là men da lươn) phủ trên ba pho tượng chính thuộc nhóm men tro - silicat truyền thống. Các tượng sử dụng kỹ thuật men nhiều màu, tô oxit kim loại riêng từng chi tiết rồi nung trong môi trường oxy hóa để giữ màu sắc ổn định. Đây là kỹ thuật phức tạp, chi phí cao, thường chỉ dành cho sản phẩm cao cấp. Đặc biệt, lớp sơn son thếp vàng được phủ sau khi tượng rời lò, do người thờ thực hiện, cho thấy sự giao thoa giữa nghề gốm và nghề sơn truyền thống. Điều này phản ánh sự dung hợp văn hóa rất đặc trưng của Nam bộ.

CN4 tro chuyen.jpg
Ông Lê Thanh Nghĩa và bộ tượng gốm men nhiều màu Tam Quan Đại Đế. Ảnh: DŨNG PHƯƠNG

* Ông nhìn nhận thế nào về giá trị lịch sử - văn hóa của bộ tượng trong bối cảnh đô thị Sài Gòn - Chợ Lớn?

* Tôi cho rằng bộ tượng là một “ký ức vật chất” đặc trưng của Sài Gòn - Chợ Lớn. Nó gắn với hệ thống lò gốm hình thành dọc kênh Lò Gốm, với mạng lưới thương mại đường sông và các cộng đồng Việt - Hoa cùng sinh sống, sáng tạo. Bộ tượng mang cấu trúc biểu tượng Đạo giáo Trung Hoa: Thiên Quan, Địa Quan, Thủy Quan. Nhưng trong phong cách tạo hình, xử lý chất liệu, sắc thái gương mặt lại thể hiện quá trình tiếp biến và bản địa hóa. Đó là minh chứng cho bản sắc văn hóa Nam bộ: cởi mở, dung hợp nhưng vẫn có dấu ấn riêng.

Việc bộ tượng được công nhận Bảo vật quốc gia không chỉ là sự ghi nhận giá trị của một hiện vật, mà còn khẳng định vị thế của dòng gốm Sài Gòn trong tiến trình lịch sử mỹ thuật Việt Nam.

* Từ câu chuyện bộ tượng Tam Quan Đại Đế, theo ông, việc phát huy giá trị của gốm xưa Nam bộ trong đời sống hiện nay cần được nhìn nhận như thế nào?

* Tôi cho rằng cần nhìn di sản gốm không chỉ như những hiện vật để lưu giữ trong tủ kính, mà phải xem đó là nguồn tư liệu văn hóa sống. Mỗi sản phẩm gốm đều chứa trong đó thông tin về kỹ thuật chế tác, đời sống tín ngưỡng, giao thương và cả lịch sử cộng đồng cư dân của một vùng đất. Nếu chỉ dừng ở bảo tồn đơn thuần thì giá trị của di sản sẽ bị giới hạn. Điều quan trọng là phải đưa di sản trở lại đời sống đương đại bằng nhiều cách như nghiên cứu, trưng bày, giáo dục, số hóa, kết nối du lịch và tạo cảm hứng cho sáng tạo mới.

* Theo ông, cần làm gì để di sản gốm xưa trở thành nguồn lực văn hóa, góp phần bồi đắp bản sắc và phát triển công nghiệp văn hóa hiện nay?

* Muốn di sản trở thành nguồn lực văn hóa thì trước hết cần xây dựng hệ sinh thái bảo tồn và phát huy đồng bộ. Không thể chỉ có nhà sưu tập, nhà nghiên cứu hay bảo tàng làm việc riêng lẻ mà cần sự tham gia của cơ quan quản lý, trường đại học, doanh nghiệp văn hóa và cộng đồng. Đối với gốm Sài Gòn nói riêng và gốm Nam bộ nói chung, tôi nghĩ cần tăng cường nghiên cứu, lập cơ sở dữ liệu, số hóa hiện vật, xây dựng các không gian trưng bày chuyên đề và tạo điều kiện để nghệ nhân, nhà thiết kế khai thác giá trị truyền thống trong sản phẩm mới.

Giữ một hiện vật không chỉ là giữ một món đồ cổ, mà là giữ lại ký ức của vùng đất, giữ những lớp trầm tích văn hóa để thế hệ sau hiểu được mình đến từ đâu. Khi những giá trị ấy tiếp tục được kể lại bằng ngôn ngữ của hiện tại, di sản mới thật sự sống cùng xã hội hôm nay.

Tin cùng chuyên mục