Tuy nhiên, mô hình trên bị vướng mắc do Luật Ngân sách nhà nước hiện hành chỉ quản lý tài chính theo đơn vị hành chính cấp tỉnh, không tồn tại cấp ngân sách vùng. Qua đó, nối dài nghịch lý tỷ trọng đóng góp vào tổng thu ngân sách cả nước của vùng tăng dần nhưng chi ngân sách bình quân đầu người của vùng luôn ở mức rất thấp, thấp hơn mức trung bình chung của cả nước. Tốc độ tăng trưởng và đóng góp của vùng Đông Nam bộ vào GDP cả nước tiếp tục suy giảm. Bất cập của hiện trạng này nằm ở chỗ vốn đầu tư Trung ương phân bổ thấp, không đủ để giải quyết các công trình hạ tầng giao thông khẩn cấp cấp vùng; thiếu tư cách pháp nhân vùng nên việc đầu tư liên tỉnh phải cắt khúc ra từng địa phương tự phê duyệt. Hệ quả là giải phóng mặt bằng và phối hợp chậm, là nguyên nhân chính gây nghẽn dòng vốn đầu tư công, kéo dài thời gian chuẩn bị và đẩy chi phí dự án tăng cao so với dự kiến. Do đó, việc hình thành Quỹ Phát triển hạ tầng vùng Đông Nam bộ cũng tắc nghẽn theo.
Để khắc phục triệt để những hạn chế nói trên, Chính phủ và các cơ quan lập pháp đã thay đổi chính sách từ việc lập “Quỹ Tài chính” sang “Lập pháp đặc thù tích hợp và điều chỉnh quy hoạch tổng thể” thông qua hai văn bản pháp lý mang tính bước ngoặt vào năm 2026 là Quyết định số 615/QĐ-TTg về điều chỉnh Quy hoạch vùng Đông Nam bộ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt về trao quyền tự chủ tài chính đột phá vượt trội cho siêu đô thị hạt nhân TPHCM để điều phối vùng. Đặc biệt, Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TPHCM trong kỷ nguyên mới vừa được ban hành đã xác định TPHCM là “hạt nhân, đô thị trung tâm trong vùng”, chủ trì liên kết với Đồng Nai, Tây Ninh, Lâm Đồng và các tỉnh thành ĐBSCL.
Nghị quyết cũng yêu cầu “hình thành Quỹ Phát triển vùng” để điều phối đầu tư liên vùng. Điểm chung đột phá của những văn kiện, văn bản trên là chủ động kiến tạo cơ chế chính sách vượt trội, đột phá. Qua đó giúp linh hoạt nguồn ngân sách địa phương để đầu tư trực tiếp vào công trình, dự án trên địa bàn, giảm giới hạn theo địa giới hành chính và bổ sung nguồn lực cho các công trình có lợi ích liên vùng. Đồng thời tạo cơ chế thành lập Quỹ Phát triển vùng đô thị đặc biệt - tức quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách do HĐND TPHCM thành lập trên cơ sở thống nhất với các địa phương trong vùng đô thị đặc biệt.
Bên cạnh đó còn có cơ chế ưu đãi cho dự án vùng sử dụng vốn ngoài ngân sách. Đặc biệt, khai thác Trung tâm Tài chính Quốc tế nhằm thu hút các quỹ đầu tư quốc tế huy động và giải ngân vốn không giới hạn vào các siêu dự án hạ tầng và kinh doanh tài sản tại Việt Nam. Đó còn là trao quyền tự chủ ngân sách và biên chế cho TPHCM quyết định nâng số lượng biên chế lên đến 20% để đáp ứng bộ máy quản lý vùng, tự cân đối chi trả thu nhập tăng thêm từ nguồn ngân sách giữ lại… Quan trọng là thúc đẩy khả năng huy động mọi nguồn lực, đảm bảo tính thực thi đã được luật hóa nhằm mang lại hiệu quả tác động lên nền kinh tế, thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng và liên kết đô thị.
Nhờ vậy, xác lập rõ hơn vai trò điều phối của TPHCM và hỗ trợ xử lý những vấn đề môi trường, thiên tai, dịch bệnh có tính chất vùng. Đây là những vấn đề thường vượt khỏi ranh giới hành chính của một địa phương. Vì vậy, cần cơ chế tài chính chung để phản ứng nhanh hơn và đồng bộ hơn. Sự kết hợp giữa điều chỉnh Quy hoạch vùng Đông Nam bộ, dự thảo Luật Đô thị đặc biệt và định hướng chiến lược của Nghị quyết 09 là giải pháp tối ưu cho ý tưởng thành lập Quỹ Phát triển hạ tầng vùng Đông Nam bộ bị vướng bởi các quy định trước đây. Sau cùng, để cơ chế vận hành hiệu quả, cần tiếp tục xác định rõ nguyên tắc đồng thuận giữa các địa phương trong vùng, cách thức góp vốn vào Quỹ Phát triển vùng đô thị đặc biệt, tiêu chí lựa chọn dự án vùng, cơ chế quản lý - giám sát quỹ, quan hệ giữa quỹ và những nguồn vốn ngân sách, tài trợ, hỗ trợ, vốn ngoài ngân sách. Đây là điều kiện quan trọng để cơ chế tài chính vùng Đông Nam bộ không chỉ dừng ở quy định pháp lý mà có thể đi vào các dự án đầu tư cụ thể.