Những tưởng hàng khối núi đá vôi với nhiều thạch nhũ, tạo nên bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ ở ven biển Tây có đào đến ngàn năm chưa hết. Ai ngờ, chỉ trong vài thập kỷ, nguồn tài nguyên lớn nhất miền Tây ở huyện Kiên Lương (Kiên Giang) đã sắp cạn kiệt do khai thác ào ạt. Từ đó kéo theo làng lò vôi nơi đây thiếu nguồn đá để nung vôi; hàng ngàn lao động đang… thất nghiệp.
Phá sản làng vôi
Đến xã Hòa Điền, huyện Kiên Lương vào những ngày này không khí đã dễ chịu hơn, mặc dù cái nóng oi bức vẫn còn đó. Điều dễ chịu được cảm nhận đầu tiên là làn khói đen bốc cao từ hàng loạt ống khói của lò nung vôi đã trở nên vắng hẳn. Những mảng bụi trắng bay lãng đãng trong lò vôi, ngoài lộ, trong quán ăn và bám đầy trên nóc nhà dân chỉ còn lưa thưa. Ô nhiễm môi trường từ khói bụi nung vôi ở đây giảm nhiều. Điều đó đã nói lên sự thay đổi ở xóm lò vôi lớn nhất miền Tây này, đó là hầu hết các lò nung vôi đã ngưng hoạt động. Theo con đường chính từ chợ Chọn qua bến đò nhỏ về làng lò vôi Hòa Điền, đây đó đã thấy nhiều lò nung vôi bị đập bỏ. Chỉ còn lại vài lò vét những mẻ đá cuối cùng để nung.
Chỉ còn vài lò vôi ở Hòa Điền hoạt động cầm chừng
“Làng vôi Hòa Điền hình thành cách đây khoảng 80 năm. Trong đó, từ năm 1998, nghề sản xuất vôi ở Hòa Điền rất phát triển với gần 100 hộ có lò. Có hộ xây tới 3 - 4 lò, chủ yếu là lò mẻ, sau nâng cấp lên lò nung liên hoàn. Mặc dù nung suốt ngày, hết mẻ này nối mẻ khác, nhưng có lúc các sản phẩm vôi của làng Hòa Điền vẫn không đủ bán. Cha tôi cũng mở lò vôi. Sở dĩ nghề này phát triển bởi dân ngày ấy tự đi vào núi Trầu lấy đá nung vôi, chi phí thấp và nguồn nguyên liệu dồi dào. Nhưng sau khi chính quyền giao núi Trầu cho doanh nghiệp khai thác đá làm xi măng, người làm vôi ở Hòa Điền phải đi mua chỗ khác, chi phí cao nhưng chất lượng vôi thấp, cạnh tranh không lại nơi khác. Từ đó, làng nghề nung vôi khốn đốn, chỉ còn vài lò nung hoạt động cầm chừng”, ông Trần Văn Lời, Phó Chủ tịch UBND xã Hòa Điền, kể trong tiếc nuối.
Ông Phạm Ngọc Khương, Phó giám đốc Công ty TNHH MTV khai thác Khương Nam Việt kể, làng lò nung vôi ở Hòa Điền phá sản vì 2 lý do cơ bản. Thứ nhất, nguồn nguyên liệu không còn, mua chỗ khác thì giá thành đội lên, không thể cạnh tranh về giá với vôi ở miền Bắc. Kế đó, nguồn vôi thành phẩm ở Hòa Điền cung ứng chủ yếu để phục vụ việc xử lý nguồn nước nuôi trồng thủy sản, nhưng nghề này thời gian qua cũng bấp bênh. “Đây là nghề truyền thống qua nhiều thế hệ. Cuộc sống gia đình tôi cũng như bao hộ dân ở đây thịnh vượng cũng nhờ làm vôi. Lúc phát triển, riêng hộ của tôi có 5 lò nhưng nay chỉ còn một lò hoạt động cầm chừng. Chắc sang năm tôi dẹp luôn vì không còn đá để làm”, ông Khương trăn trở.
Lao động thất nghiệp
Bà Nguyễn Thị Thêu, 50 tuổi, ấp Thạnh Lợi, xã Hòa Điền, tâm sự: “11 tuổi, tôi đã làm nghề vôi vì cha mẹ mất sớm. Công việc của tôi là kéo đá bằng xe cây bắt đầu từ 4 giờ sáng. Nhưng hồi ấy làm 1 ngày ăn được 3 ngày. Còn bây giờ, tôi chuyển sang xúc vôi đổ vào bao, làm ngày nào ăn hết ngày đó. Do nguồn thu nhập bây giờ chỉ có 80.000 - 150.000 đồng/ngày, trong khi giá tiêu dùng đắt đỏ hơn. Ngày nào lò tắt lửa, tôi phải làm thuê việc khác và thu nhập rất bấp bênh. Nhiều nhân công lò vôi ở đây đã bỏ xứ đi kiếm việc”.
Còn anh Nguyễn Văn Phúc (ngụ ấp Núi Trầu, xã Hòa Điền), lái xe cẩu chuyển đá từ dưới đất lên lò nung, cho hay công việc của anh bắt đầu từ 7 giờ sáng đến 4 giờ chiều, thu nhập cao nhất 130.000 đồng/ngày. “Mặc dù thu nhập chỉ đủ tiền chợ nuôi vợ con, nhưng lò vôi nghỉ ngày nào là gia đình tôi “nghỉ”… ăn ngày đó”, anh Phúc than thở.
Thu nhập thấp cộng thêm làm việc trong môi trường khói bụi nên ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe của nhân công. Anh Phạm Văn Tuấn (28 tuổi, công nhân kỹ thuật sắp đá vào lò nung) thở dài: “Khi 14 tuổi, tôi đã theo cha làm nghề cho tới bây giờ. Công việc này phải chịu sức nóng dữ dội từ lò nung phát ra khoảng 800C. Hít khói than đá từ lò bốc lên rất tổn hại sức khỏe. Mỗi lần mắc bệnh phải tự mua thuốc uống do chủ lò khoán ăn công theo sản phẩm, chẳng mua bảo hiểm y tế, hay trang bị bảo hộ lao động gì cho công nhân. Nghề này bạc bẽo lắm!”.
Ông Trần Văn Lời trăn trở: “Theo nhu cầu, mỗi lò vôi sử dụng trên dưới 15 lao động, nên lúc hưng thịnh ở làng lò vôi Hòa Điền có tới 1.500 - 2.000 lao động. Còn bây giờ đa số đã đi tứ xứ mưu sinh. Mấy chục năm qua, hàng ngàn người dân nơi đây sống nhờ lò vôi, giờ phá sản chưa biết chuyển đổi nghề gì, vì ở đây chẳng có nhà máy hay công ty nào sử dụng nhiều lao động nên chính quyền địa phương cũng đang lúng túng trong việc giải quyết vấn đề mưu sinh cho người dân”.
BẢO CHÂU