Quy trình nghiêm ngặt bên trong lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt
SGGPO
TS Cao Đông Vũ, Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt chia sẻ, từ quá trình tiếp quản, khôi phục và đưa lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt vận hành trở lại, viện đã tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ thiết thực cho xã hội.
Năm 1963, lò phản ứng TRIGA Mark II công suất 250 kWt được đưa vào vận hành tại Đà Lạt, phục vụ nghiên cứu, đào tạo và sản xuất đồng vị phóng xạ. Nhưng đến năm 1968, lò phải dừng hoạt động.
Đêm 30 - rạng sáng 31-3-1975, các bó nhiên liệu hạt nhân được rút khỏi lò, sau đó chuyển về Mỹ, khiến lò không còn khả năng vận hành.
Lối vào lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt Lò cao hơn 7m - "trái tim" của Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt
Sau ngày đất nước thống nhất, giữa muôn vàn khó khăn của thời kỳ tái thiết, việc tiếp quản và khôi phục cơ sở khoa học hạt nhân đặc biệt này được xem như một nhiệm vụ mang ý nghĩa chiến lược.
Phòng điều khiển trung tâm của lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt
Với sự hỗ trợ của Liên Xô cùng quyết tâm của Việt Nam, công trình khôi phục và mở rộng lò phản ứng được khởi công ngày 15-3-1982.
Hai năm sau, lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt chính thức vận hành trở lại, với công suất 500 kWt (gấp đôi lò TRIGA cũ).
Kỹ sư ghi chép lại thông tin trong lò, mỗi ca trực có khoảng 4-5 người vận hành
TS Cao Đông Vũ, Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt (bên phải)
"Những cán bộ từng gắn bó với giai đoạn khôi phục lò phản ứng vẫn gọi đó là khoảnh khắc “ngọn lửa xanh” hồi sinh.
Khi lò vận hành trở lại, ánh sáng xanh lam trong bể nước làm mát quanh lõi lò hiện lên như “ngọn lửa xanh” được thắp lại, trở thành dấu hiệu cho việc lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt được khôi phục và nâng công suất thành công", TS Cao Đông Vũ chia sẻ.
Ánh sáng xanh lam trong bể nước làm mát quanh lõi lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt hiện vận hành trung bình khoảng 3.000 giờ/năm
Từ một cơ sở từng bị bỏ lại sau chiến tranh, Việt Nam dần xây dựng lại đội ngũ, tiếp cận công nghệ, rồi từng bước làm chủ vận hành.
Để vận hành lò và các hệ công nghệ, mọi quy trình diễn ra với yêu cầu chính xác gần như tuyệt đối. Từ kiểm tra thông số, kiểm soát bức xạ đến giám sát an toàn đều được thực hiện nghiêm ngặt.
Các kỹ sư nạp mẫu từ phía trên vào lò phản ứng hạt nhân, tại đây thiết bị đo nồng độ phóng xạ luôn được bật Việc đo nồng độ phóng xạ xuyên suốt quá trình ở trong lò nhằm đảm bảo an toàn cho những chuyên gia, kỹ sư làm việc tại đây
Suốt hơn 40 năm vận hành, lò đã hoạt động trên 70.000 giờ ở công suất danh định 500 kWt.
Nếu như 3 thập niên đầu, thời gian vận hành trung bình khoảng 1.300 giờ/năm, thì 10 năm gần đây đã tăng lên khoảng 3.000 giờ/năm.
Cảnh báo được đặt trong khu vực lò phản ứng hạt nhân để nhắc nhở an toàn bức xạ PGS-TS Nguyễn Xuân Hải, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt (bên trái) cùng các kỹ sư theo dõi và vận hành hoạt động của lò qua hệ thống màn hình, bảng tín hiệu và thiết bị giám sát an toàn
Từ lò phản ứng, các dược chất phóng xạ được Viện Nghiên cứu hạt nhân sản xuất để phục vụ y học hạt nhân tại 23 bệnh viện trên cả nước, với khoảng 17.500 Ci thuốc phóng xạ đã được cung cấp, góp phần phục vụ chẩn đoán và điều trị cho khoảng 500.000 lượt bệnh nhân mỗi năm.
Từ bể lò, chất phóng xạ được các kỹ sư phá mẫu (tách) đưa vào dây chuyền sản xuất tại Viện nghiên cứu hạt nhân Toàn bộ quy trình diễn ra trong khu vực cách ly hoàn toàn với môi trường bên ngoài Nhân viên viện nghiên cứu kiểm tra chất lượng đồng vị phóng xạ trong quá trình sản xuất Sau đó đưa vào máy chạy chương trình Nhân viên tiến hành công đoạn đặt thuốc vào máy đông khô
Thuốc bột sau khi đông khô dùng đánh dấu với đồng vị phóng xạ Tc-99m ứng dụng trong chụp hình SPECT tại các khoa y học hạt nhân Sau khi rời khỏi lò phản ứng và khu vực kiểm nghiệm, mọi người đều phải đo nhiễm xạ để đảm bảo an toàn
TS Cao Đông Vũ cho biết: “Từ quá trình tiếp quản, khôi phục và đưa lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt vận hành trở lại, viện đã từng bước làm chủ công nghệ, xây dựng đội ngũ, tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ thiết thực cho xã hội. Chúng tôi xem an toàn là nền tảng, khoa học - công nghệ là động lực, đào tạo nguồn nhân lực là nhiệm vụ chiến lược, còn hợp tác quốc tế là con đường quan trọng để ngành hạt nhân Việt Nam phát triển bền vững, phục vụ hòa bình và phát triển đất nước”.