Các chính sách khuyến khích gia tăng “nội địa hóa” ô tô

Thuốc chưa đúng bệnh

  • Liều thuốc thử

Một chính sách mới về thuế nhập khẩu linh kiện ô tô được coi là hỗ trợ cho mục tiêu nội địa hóa vẫn chưa được ban hành vào đầu năm 2005 như dự định. Cái mới của nó được lý giải là sẽ khuyến khích nội địa hóa khi đánh thuế nhập khẩu cao đối với những loại linh kiện có thể sản xuất trong nước.

Theo quy hoạch phát triển công nghiệp ô tô đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, yêu cầu về tỉ lệ nội địa hóa phải đạt tối thiểu 20% vào năm 2005, 30% – năm 2007 và 40% – năm 2010. Trong khi đó, với phương pháp tính điểm thì các loại xe du lịch (chủ yếu do các liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất) mới đạt mức nội địa hóa 12% nếu chỉ đầu tư hàn, sơn, lắp ráp.

Xe buýt sản xuất tại Công ty SAMCO đã được “nội địa hóa” 40%.

Năm 2003 (năm cao nhất của sản lượng ô tô sản xuất trong nước), tổng số xe các loại của 11 liên doanh mới đạt gần 43.000 chiếc, nhưng gồm hơn 70 loại xe, loại nhiều nhất chỉ hơn 3.000 chiếc. Với yêu cầu nội địa hóa thì việc đầu tư sản xuất trong nước rõ ràng là phải dàn trải theo hàng ngang cho tất cả các loại xe.

Thế nhưng ngay cả một số loại linh kiện được coi là có thể sản xuất trong nước và dùng chung được cho nhiều loại xe, thì điểm tỉ lệ nội địa hóa lại rất thấp, ví dụ ắc quy (0,125%), săm lốp (1%), bộ ghế (1,2%), kính các loại (1,5%) mà chất lượng cũng chỉ đáp ứng được đối với một vài loại xe. Với điều kiện thị trường và khả năng cung cấp như vậy, mục tiêu nội địa hóa thực sự là bài toán khó giải, dù chỉ là mức 20%.

Theo dự kiến của chính sách thuế mới, nếu căn cứ vào một loại linh kiện nào đó đã được sản xuất trong nước và thực hiện bảo hộ, thì có thể sẽ có rất nhiều dòng thuế có thuế suất cao một cách không hợp lý. Ví dụ, lốp xe ô tô sản xuất trong nước có thể dùng cho một vài loại xe tải, nhưng lại chưa thể đáp ứng yêu cầu đối với các loại xe con.

Tương tự, một loại ô tô nào đó với thị phần chỉ 5%, có thể được đầu tư dập khung vỏ trong nước, nhưng không thể đại diện cho khả năng nội địa hóa khung vỏ ở tất cả các loại xe khác. Trong khi thuế tiêu thụ đặc biệt từ mức 24% đã tăng lên 40% đối với xe ô tô dưới 6 chỗ ngồi từ 1-1-2005, thì bất cứ việc tăng thuế thực tế nào đối với linh kiện nhập khẩu sẽ rất nhạy cảm đối với các nhà sản xuất và tạo thêm gánh nặng cho người tiêu dùng.

  • Chính sách nào cho nội địa hóa?

Nếu quy định về tỉ lệ nội địa hóa là bắt buộc, về lý thuyết có thể đầu tư để sản xuất bất cứ mặt hàng nào mong muốn, nhưng với quy mô quá nhỏ, các yếu tố giá thành liên quan đến sản xuất sẽ là khổng lồ và khi đó những ảnh hưởng của thuế trở nên không đáng kể. Vì vậy, trong thời điểm hiện nay, việc đánh thuế theo linh kiện rời khó có thể là thuốc chữa đúng bệnh.

Khi thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các xe chở người (dưới 24 chỗ ngồi) ở mức rất cao và việc vẫn cho phép nhập xe tải cũ cho thấy Việt nam chỉ là thị trường tiềm năng trong những tính toán của các nhà đầu tư. Hầu hết các nhà chế tạo ô tô hàng đầu trên thế giới đặt chân vào Việt nam đều tính đến thị trường tại chỗ chứ không phải nhằm đến mục tiêu xuất khẩu.

Việc không khuyến khích sử dụng ô tô do những hạn chế của cơ sở hạ tầng, khó có thể song hành với mong muốn có được một ngành công nghiệp ô tô. Nếu thực sự muốn kích cầu, thì trong xu hướng hội nhập, việc giảm bớt bảo hộ đối với ngành ô tô chỉ nên theo hướng giảm thuế đối với sản phẩm nhập khẩu.

Trên thế giới các hãng ô tô có xu hướng hợp nhất và chuyên môn hóa cao để có một quy mô sản xuất đủ lớn (economy of scale), nhằm giảm chi phí sản xuất. Trong khi đó, với mục tiêu nội địa hóa của Việt nam, thì việc đầu tư lại phải dàn trải theo hàng ngang. Xét cho cùng, nội địa hóa là làm tăng giá trị sản xuất tại chỗ. Mô hình phát triển theo “chiều ngang” đòi hỏi nội địa hóa đối với từng xe cụ thể đang ngược lại với quan điểm phát triển theo “chiều dọc” là tham gia được vào cỗ máy công nghiệp ô tô toàn cầu.

Có lẽ cũng vì mong muốn có được một ngành công nghiệp ô tô theo đúng nghĩa của nó, các doanh nghiệp trong nước lại phấn đấu theo một mục tiêu cao hơn rất nhiều (ô tô tải và ô tô khách phải đạt tỉ lệ nội địa hóa 40% vào năm 2005). Ngoài ra còn yêu cầu nội địa hóa đối với các bộ phận phức tạp mà sự hạn chế của loạt sản xuất lại bất lợi nhất, như động cơ và hộp số (động cơ phải đạt 30%, hộp số - 65% vào năm 2005).

Để đạt được mục tiêu trên đòi hỏi phải tập trung các nguồn vốn lớn cộng với các bảo hộ cần thiết có thể sẽ dẫn đến kết quả ngược lại là làm tăng giá thành, giảm tính cạnh tranh. Không phải không có lý khi có ý kiến cho rằng nên tính nội địa hóa trên cơ sở tỉ lệ giữa giá trị nhập khẩu với giá trị xuất khẩu.

Tỉ lệ nội địa hóa đối với từng sản phẩm cụ thể có thể cao nhưng chưa hẳn tổng giá trị tăng thêm đã bằng tập trung vào một số mũi nhọn với thị trường rộng lớn hơn nhiều khi tham gia xuất khẩu. 

XUÂN TRƯỜNG - NGÔ TUYỂN

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Chợ đầu mối đối mặt nguy cơ tái đóng cửa

Chợ đầu mối đối mặt nguy cơ tái đóng cửa

Việc cho các chợ đầu mối tại TPHCM được mở điểm trung chuyển hàng hóa được kỳ vọng sẽ góp phần giải quyết tình trạng thiếu hàng hóa thiết yếu trong bối cảnh thành phố thực hiện giãn cách. Thế nhưng, thực tế đã không được như mong muốn. 

Ngân hàng - Chứng khoán

Duy trì, củng cố yếu tố tích cực

Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh TPHCM, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn đến hết tháng 8-2021 ước đạt 2.693.500 tỷ đồng, tăng 0,45% so với tháng trước, tăng 6,31% so với cuối năm 2020 và tăng 13,23% so với cùng kỳ năm trước. 

Thị trường

Sức mua “đi chợ giúp” giảm mạnh

Ngày 22-9, ghi nhận tại các siêu thị lớn trên địa bàn TPHCM cho thấy, lực lượng đi chợ giúp không còn đông như thời điểm trước, dẫn đến sức mua cũng giảm theo. 

Địa ốc

Nông nghiệp

Đồng Tháp khôi phục sản xuất, phát triển kinh tế

Dịch Covid-19 bùng phát trở lại lần này gây nhiều ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội. Thời gian qua, tỉnh Đồng Tháp đã quyết liệt triển khai nhiều giải pháp nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh, nhờ đó số ca nhiễm ngày càng giảm. Hiện nay, cùng với việc phòng chống dịch thì các địa phương khẩn trương khôi phục sản xuất, tiêu thụ hàng hóa và tăng cường xuất khẩu trong những tháng cuối năm. 

Đầu tư

Chuẩn bị các điều kiện đón làn sóng đầu tư

Các nhà đầu tư ngoại vẫn kỳ vọng vào môi trường đầu tư của Việt Nam mặc dù tại thời điểm này đang gặp nhiều khó khăn do dịch Covid-19. Ngay lúc này đây, vẫn có nhiều giải pháp, cách làm có thể cải thiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài, chuẩn bị các điều kiện sẵn sàng đón làn sóng đầu tư trong điều kiện bình thường mới. 

Du lịch

Chuyển động kinh tế & Đời sống 24H

Thông tin kinh tế