Đó là nhận định của các chuyên gia tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2026, với chủ đề “Doanh nghiệp trước cú sốc địa chính trị toàn cầu: ứng phó thế nào?” do Báo Người Lao Động tổ chức ngày 26-3.
TS Trần Du Lịch, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế TPHCM cho biết, khả năng “đề kháng” của nền kinh tế đã được kiểm chứng qua các giai đoạn khủng hoảng 2008–2009 và dịch COVID-19, khi duy trì ổn định tương đối.
Khó khăn hiện nay không chỉ xuất phát từ xung đột Trung Đông mà đã được dự báo từ trước, trong bối cảnh tăng trưởng toàn cầu chậm lại, rủi ro địa chính trị gia tăng và thị trường tài chính quốc tế còn nhiều biến động.
Trong nước, doanh nghiệp đang đối mặt với nhiều áp lực như đơn hàng ngắn hạn, chi phí tài chính, tỷ giá và nguyên liệu tăng cao, cùng với chi phí logistics vốn đã ở mức cao trong khu vực. Thị trường bất động sản vẫn trong quá trình điều chỉnh, ảnh hưởng đến tăng trưởng chung.
Trước tình hình này, Chính phủ đã chủ động xây dựng các kịch bản ứng phó theo từng giai đoạn.
“Doanh nghiệp cần quản trị dòng tiền chặt chẽ, kiểm soát tồn kho, duy trì sản xuất và giữ khách hàng, kể cả các đơn hàng nhỏ, nhằm bảo toàn chuỗi cung ứng. Đồng thời, chủ động tiết giảm chi phí, tận dụng chính sách hỗ trợ. Về phía Nhà nước, cần tiếp tục tháo gỡ rào cản về thuế, phí và giữ vững ổn định vĩ mô, đặc biệt là tỷ giá, lãi suất và thanh khoản”, TS Trần Du Lịch đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn hiện nay.
Cùng quan điểm, PGS-TS Trần Hoàng Ngân, đại biểu Quốc hội cũng cho rằng, trong 2 tháng đầu năm 2026, kinh tế Việt Nam duy trì ổn định với nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực.
Tuy nhiên, diễn biến địa chính trị, đặc biệt là xung đột Trung Đông, đang tạo áp lực không nhỏ nhưng Việt Nam được đánh giá có “sức đề kháng” tốt nhờ kinh nghiệm ứng phó với COVID-19, xung đột Nga - Ukraine và thiên tai.
Theo PGS-TS Trần Hoàng Ngân, để duy trì nền kinh tế ổn định, cần kiểm soát giá xăng dầu bằng cách linh hoạt giảm thuế, phí, tận dụng dư địa ngân sách khi thu vượt hơn 80.000 tỷ đồng. Đồng thời, giảm chi phí cho doanh nghiệp thông qua cắt giảm các loại thuế, phí và tăng cường quản lý thị trường, ngăn chặn đầu cơ, bảo vệ môi trường kinh doanh.
Về chính sách tài khóa, PGS-TS Trần Hoàng Ngân ủng hộ quan điểm nới lỏng trong bối cảnh nợ công đang được kiểm soát ở mức khoảng 37% GDP. Tuy nhiên, việc nới lỏng cần đi kèm nguyên tắc chặt chẽ, tiết kiệm, chống lãng phí, nhằm tập trung nguồn lực cho đầu tư công, đặc biệt là ba lĩnh vực hạ tầng chiến lược: giao thông, năng lượng và công nghệ.
Đối với chính sách tiền tệ, cần đảm bảo đồng thời các mục tiêu kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng và giữ an toàn hệ thống. Trong đó, cần ưu tiên đảm bảo thanh khoản và ổn định lãi suất, bởi lạm phát hiện nay chủ yếu đến từ yếu tố “chi phí đẩy” như giá năng lượng và xung đột địa chính trị, không phải do cung tiền. Do đó, cần tránh để lãi suất tăng cao nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và duy trì việc làm.
“Về dài hạn, ba trụ cột chuyển đổi mang tính bắt buộc cần phải triển khai thường xuyên, liên tục, đó là chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và chuyển đổi cơ cấu kinh tế”, PGS-TS Trần Hoàng Ngân nhấn mạnh.
Về phía doanh nghiệp, ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch HUBA, cho biết doanh nghiệp đang nỗ lực xoay xở để tồn tại, song đã xuất hiện những tín hiệu tích cực. Từ tháng 4 có thể có chuyển biến, nhưng cần chuẩn bị cho khả năng khó khăn kéo dài đến hết quý 2-2026.
Để thích ứng, doanh nghiệp phải cắt giảm chi phí, duy trì đầu tư, thậm chí chấp nhận hòa vốn trong ngắn hạn để chuẩn bị cho chu kỳ tăng trưởng mới.
Ông Nguyễn Ngọc Hòa nhấn mạnh vai trò của chính sách trong việc tháo gỡ khó khăn, đặc biệt là giảm chi phí vốn. Việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại TPHCM được kỳ vọng tạo kênh huy động vốn hiệu quả, song cần cơ chế phù hợp, kể cả các mô hình thử nghiệm như sandbox để thu hút dòng vốn và tối ưu chi phí giao dịch.
Cùng với đó, khi hình thành sàn giao dịch hàng hóa trong khuôn khổ trung tâm tài chính, chi phí giao dịch có thể được rút ngắn và tối ưu hơn. Những cơ chế, chính sách và mô hình thử nghiệm như vậy sẽ góp phần “tiếp sức” cho doanh nghiệp, đồng thời mở ra các cơ hội mới.