Về làng phát triển du lịch quê hương
Nhóm thanh niên chạy ngang nhà văn hóa thôn Tân Lập (xã Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang). Bên sân bóng chuyền, những người trung tuổi í ới gọi với qua hàng rào xanh rợp: “Hôm nay lại có khách đấy à?”. Những chiếc xe dừng trước cổng nhà sàn khi trời vừa sẩm tối. Một lát sau, tiếng đàn tính cất lên, trầm và ngân, rồi tiếng hát Then da diết, tự tình. Khách ngồi trước sân, hòa nhịp theo từng giai điệu. Sáng hôm sau, cũng dưới mái nhà ấy, một cô gái Tày trong bộ trang phục truyền thống đứng nép bên hiên, chỉnh lại chiếc khăn trên đầu. Phía đối diện, chàng trai trẻ vừa khoác xong bộ áo chàm chú rể. Họ không phải cô dâu, chú rể thật mà đang vào vai trong một đám cưới Tày được dựng lại để du khách trải nghiệm. Cô hướng dẫn viên nhoẻn cười: “Đoàn từ 20 người trở lên là có thể trải nghiệm đám cưới Tày. Chưa có chú rể thì được “phát” chú rể, chưa có cô dâu cũng được “phát” cô dâu”.
Ông lang, bà mối xuất hiện. Những lời chào hỏi, nghi thức của một đám cưới Tày lần lượt diễn ra. Có người khách cười rạng rỡ khi lần đầu khoác lên mình bộ áo chàm; có người chăm chú nhìn từng động tác, lắng nghe từng lời nói, câu hát. Ngoài sân, các thành viên đội văn nghệ “Chiến khu xưa” lặng lẽ chuẩn bị cho phần trình diễn tiếp theo. Cái tên “Chiến khu xưa” như một lời nhắc về vùng đất từng là căn cứ cách mạng, Thủ đô Khu Giải phóng, Thủ đô Kháng chiến của cả nước.
Trong những người trẻ ở Tân Lập trở về làm du lịch có Hoàng My - một cử nhân luật, và Bế Diệu Linh - tốt nghiệp Trường ĐH Văn hóa Hà Nội. Học xong, họ cùng trở về quê, thành lập Công ty TNHH Dịch vụ và Du lịch Tân Trào, đưa khách vào những nếp nhà sàn, kết nối các hộ dân, tạo những trải nghiệm gắn với đời sống cộng đồng. Linh từng có thời gian làm việc tại bảo tàng. Những kiến thức về văn hóa, lịch sử học được ở trường cùng trải nghiệm tích lũy thành hành trang để cô trở về Tân Trào giới thiệu với du khách những nếp nhà sàn, câu Then, phong tục, nghi lễ của người Tày. “Một phần công việc của chúng tôi là làm sao để khách đến Tân Trào không chỉ tham quan những địa danh trong sách sử mà còn được hòa vào đời sống cộng đồng trên mảnh đất đặc biệt này”, Linh nói.
Con đường hôm nay dẫn lối về năm xưa
Đám cưới kết thúc, những thành viên đội văn nghệ “Chiến khu xưa” lại đi ngược về phía làng, qua những ruộng lúa xanh để ra đường lớn. Hơn tám mươi năm trước, cũng trên những con đường làng Tân Lập này, có một cậu bé Tày ngày ngày chăn trâu, đi nương, thỉnh thoảng mang trái cây lên lán cho một người đàn ông mà dân làng gọi thân mật là “ông Ké”. Cậu bé ấy là Hoàng Trung Ngọc.
Nay đã ngoài 90 tuổi, cụ Ngọc vẫn ngày ngày ngồi dưới mái nhà sàn, chẻ giang, tre, đan những món đồ nhỏ bán cho khách. Đôi tay tuy chậm rãi nhưng ký ức dường như vẫn vẹn nguyên. Năm 1945, Hoàng Trung Ngọc 10 tuổi. Làng Tân Lập khi ấy còn mang tên Kim Long, chỉ chừng hai chục nóc nhà nép dưới dãy núi Hồng. Cuộc sống người dân còn nhiều thiếu thốn, những căn nhà nhỏ về đêm chỉ le lói ánh đèn dầu. Buổi chiều 21-5-1945, Ngọc cùng đám trẻ đang chơi thì thấy một đoàn người men theo bờ ao vào nhà ông Nguyễn Tiến Sự, ngay bên nhà mình. Người lớn tuổi nhất trong đoàn ăn mặc giản dị. Đi ngang qua đám trẻ, ông dừng lại hỏi: “Các cháu đang làm gì?”. Bọn trẻ đáp: “Chúng cháu đánh quay”. Ông hỏi tiếp: “Các cháu có đi học không?”. “Thưa, chúng cháu chẳng có trường”. Ông dặn: “Mai kia có trường, có lớp, phải đi học nhé”.
Cuộc trò chuyện chỉ vài câu. Người đàn ông ấy đi về phía nhà ông Sự, còn lũ trẻ tiếp tục chơi quay. Sau đó, ông Ké thường gặp bọn trẻ. Một lần, khi Ngọc đang chơi, ông gọi lại: “Thằng cu Ngọc tham gia Đội Nhi đồng cứu quốc nhé!”. Ngọc hỏi: “Đội Nhi đồng cứu quốc làm việc gì vậy ông?”. Ông Ké bảo cậu tập hợp thêm vài bạn. Khi đi chăn trâu, chăn bò, đi nương, đi rẫy, nếu thấy người lạ vào làng thì báo ngay cho các chú bộ đội. Ngọc về rủ Nguyễn Văn Khoái, Nông Văn Giai và Ma Văn Hiền. Bốn đứa trẻ thành một đội. Tuổi còn nhỏ, công việc cũng nhỏ nhưng cả bốn đứa đều thấy “vinh dự, tự hào, hăng hái lắm”.
Rồi ông Ké chuyển lên lán Nà Nưa. Cậu bé Ngọc vẫn thường lên chơi. Trong vườn nhà có quả gì, cậu lại mang lên biếu. Có hôm, ông Ké cho lũ trẻ một hộp kẹo bằng sắt. Ông hỏi: “Cháu có biết mở không?”. Ngọc lắc đầu. Ông chỉ miếng sắt phía dưới hộp, bảo bẻ ra rồi dùng nó mở núm xoay. Những chuyện nhỏ như vậy, hơn tám mươi năm sau cụ Ngọc vẫn nhớ. Cụ cũng không quên ông Ké từng dạy lũ trẻ nhiều điều khác. Có những lời phải đến khi lớn lên, đi bộ đội, cụ mới hiểu hết. Cụ nhớ nhất lời dặn phải bình tĩnh trong mọi hoàn cảnh, “vội vàng, hấp tấp là chết”. Ra trận, cụ luôn tự nhắc mình bình tĩnh, quan sát địa hình, bám sát tình hình.
Những năm tháng sau đó, cụ đi qua nhiều chiến trường trước khi trở về quê nhà. Trong các cuộc kháng chiến, 104 thanh niên của thôn lần lượt rời nếp nhà sàn, ruộng nương, mang tuổi trẻ đến những chiến trường xa quê. Toàn xã Tân Trào (cũ) có 31 liệt sĩ. Riêng Tân Lập không có liệt sĩ. Cả 104 người con của làng đều trở về, trong đó có 2 thương binh và 2 bệnh binh. Hơn nửa thế kỷ sau những ngày trận mạc, bệnh binh Hoàng Trung Ngọc vẫn ngồi dưới mái nhà sàn, chẻ từng nan giang, đan rổ, rá, giần, sàng… bán ở chợ phiên và cho khách ghé Tân Trào. Cụ nói: “Tôi vẫn hay mơ thấy Bác của năm 1945. Bác của những ngày gọi tôi là “cu Ngọc” và chúng tôi gọi Người là ông Ké”. Cụ Ngọc ngồi lặng một lúc rồi chợt đứng dậy, vươn vai, chầm chậm xoay mình. Chòm râu bạc rung rung theo nụ cười móm mém: “Ngày trước, ông Ké cũng dạy chúng tôi vươn vai, lắc mình như vậy!”.
Chiến khu xưa, đời sống mới
Trở lại Tân Trào hôm nay, những nếp nhà sàn của người Tày đã có thêm một đời sống mới. Từ những ngôi nhà còn lưu giữ được, nhiều hộ gia đình đầu tư thêm cơ sở vật chất để đón khách. Riêng thôn Tân Lập hiện có 18 homestay. Du khách có thể ngủ lại nhà sàn, thưởng thức món ăn địa phương, nướng cơm lam, bơi mảng, nghe hát Then, đốt lửa trại…
Nhưng cuộc chuyển mình của Tân Lập chưa đồng đều. Trưởng thôn Bế Văn Dự cho biết, khó khăn lớn nhất với nhiều hộ dân vẫn là vốn. Đã có những gia đình đầu tư hàng tỷ đồng nhưng không phải hộ nào cũng dám vay 400-500 triệu đồng để sửa sang nhà cửa, đầu tư làm du lịch, vì chưa biết bao giờ mới thu hồi được vốn. Gia đình chị Nguyễn Thanh Diệu và anh Hoàng Trung Nhất cũng đứng trước bài toán ấy. Chị Diệu là giáo viên mầm non, con dâu út của cụ Hoàng Trung Ngọc. Căn nhà của gia đình được sửa sang thành homestay Nhất Lấu, bắt đầu đón khách từ năm 2024. Anh Nhất cười chất phác: “Mới gọi là có thêm thu nhập ngoài nghề nông thôi”.
Chị Diệu nói: “Làm du lịch học hỏi được nhiều điều lắm”. Khách đến kể với anh chị về nơi họ sống, có người gợi mở một cách làm, một góc nhìn khác. Từ đó, chị bắt đầu nhìn kỹ hơn những gì đang dần thiếu đi ngay trong ngôi nhà của mình. Cái cày, cái bừa, chiếc chậu, cái ấm… những vật dụng từng rất đỗi bình thường trong đời sống người Tày nay lại ngày một khó tìm. Người biết làm chúng cũng ít dần. Chị muốn tìm lại những vật dụng ấy, đưa về căn nhà để khách đến Tân Trào không chỉ nghe Then, mặc áo chàm mà còn có thể hình dung phần nào đời sống của người Tày trong những tháng ngày chưa xa. “Giữ lại những thứ cũ trong một đời sống đã thay đổi không phải chuyện dễ. Có những thứ chỉ có thể tái tạo phần nào, cách gìn giữ cũng phải khác đi”, chị Diệu nói.
Sự thay đổi ấy hiện diện ngay trong từng gia đình. Con trai chị nay làm việc tại một khu du lịch nghỉ dưỡng; nhiều người trẻ trong làng cũng bắt đầu tìm thấy những công việc mới từ chính ngành du lịch đang hình thành trên quê hương. Ở nếp nhà sàn bên kia, cụ Ngọc vẫn ngồi đan lát. Khách ghé sát, hỏi thật to bên đôi tai đã lãng: “Từ ngày làm du lịch, cụ thấy vui nhiều không?”. Cụ cười, đôi mắt mờ ánh lên giữa những nan giang trên tay: “Du lịch hả? Vui quá chứ. Đời sống khác nhiều rồi. Các cháu cụ, có bốn đứa học đại học đấy”.