Học thuyết Mác – Lênin và chủ nghĩa xã hội: Trào lưu hay quy luật tất yếu?
Bài 2: CNXH ở Việt Nam trước đổi mới
Thứ tư, 07/10/2009, 00:28 (GMT+7)

Trước đổi mới, tức là trước Đại hội VI (năm 1986) trở về trước, quan niệm về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta chịu ảnh hưởng của mô hình Xô Viết. Đây cũng là tình hình chung trong tất cả các nước trong hệ thống XHCN. Vậy quan niệm về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta trước đổi mới là gì? 

Độc lập dân tộc và CNXH 

Trong Đường cách mệnh và tiếp đó là những văn kiện do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp soạn thảo được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng đã thể hiện rõ đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Làm cách mạng tư sản dân quyền kiểu mới, do giai cấp công nhân lãnh đạo để thực hiện giải phóng dân tộc, giành lấy độc lập dân tộc và dân chủ để tiến tới cách mạng vô sản, không phải kinh qua chế độ tư bản chủ nghĩa, để xây dựng CNXH và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam.

Từ đó đến nay, Đảng ta đã kiên trì với sự lựa chọn lịch sử đó. CNXH vẫn là mục tiêu, lý tưởng không thay đổi của cách mạng Việt Nam. Đó là một nhận thức khoa học và thể hiện rõ lập trường cách mạng triệt để, kiên định của Đảng ta. 

Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, đó là điểm nổi bật, xuyên suốt và chủ đạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH và CNXH là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. 

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tiếp theo là thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH đã khẳng định lựa chọn này là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Tiếp theo đó là thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và từng bước đưa đất nước quá độ lên CNXH. Kế thừa những thành tựu và những bài học kinh nghiệm trong quá trình xây dựng CNXH ở miền Bắc và trong những năm đầu khi nước nhà thống nhất, trải qua nhiều tìm tòi, khảo nghiệm sáng kiến của nhân dân, Đảng ta đã đề ra và lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới, xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN phù hợp với thực tiễn Việt Nam và bối cảnh quốc tế mới. 

Quá trình nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH 

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc được giải phóng và đi lên CNXH, miền Nam tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Đường lối cách mạng XHCN đã bước đầu hình thành.

Đại hội III của Đảng (năm 1960) đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng: vạch ra con đường tiến lên CNXH ở miền Bắc và con đường giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

Đại hội đã xác định đường lối chung của Đảng trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở miền Bắc: Đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống phấn đấu anh dũng và lao động cần cù của nhân dân ta, đồng thời tăng cường đoàn kết với các nước XHCN anh em do Liên Xô đứng đầu, để đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH, xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, góp phần tăng cường sức mạnh khối XHCN, bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới… 

Đến Đại hội IV của Đảng (năm 1976), với khí thế của người chiến thắng, Đảng ta đã đề ra đường lối đẩy nhanh quá trình đi lên CNXH trên phạm vi cả nước.

Đại hội IV cũng xác định đường lối chung cách mạng XHCN ở nước ta là: nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên CNXH; xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN, xây dựng nền sản xuất lớn XHCN, xây dựng nền văn hóa mới, con người mới XHCN; xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ nghèo nàn lạc hậu…; xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và XHCN; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH. 

Như vậy, nhìn một cách tổng quát, thời kỳ trước đổi mới, nhận thức của Đảng ta về mục tiêu, bản chất của CNXH và sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta là đúng đắn - giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Điều này phù hợp với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. 

Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng khuyết điểm, sai lầm 

Vấn đề đặt ra là, vì sao bên cạnh những thành tựu đã đạt được nhưng việc thực hiện đường lối đó, chỉ ít lâu sau Đại hội IV của Đảng nền kinh tế có chiều hướng đi xuống, đời sống nhân dân ngày một khó khăn và từ cuối những năm 1970 nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội. 

Đại hội VI của Đảng với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng với sự thật, nói rõ sự thật đã khẳng định những thành tựu đạt được, đồng thời chỉ rõ những khuyết điểm, sai lầm. Đại hội chỉ rõ chúng ta đã mắc những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện.

Về mặt lý luận, đó là sự lạc hậu về nhận thức lý luận và vận dụng các quy luật đang hoạt động trong thời kỳ quá độ; đã mắc bệnh chủ quan duy ý chí, giản đơn hóa, muốn thực hiện nhanh chóng nhiều mục tiêu của CNXH trong điều kiện nước ta mới ở chặng đường đầu tiên.

Chúng ta đã có thành kiến không đúng, trên thực tế, chưa thật sự thừa nhận những quy luật của sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan; do đó không chú ý vận dụng chúng vào việc định chế các chủ trương, chính sách kinh tế. Chưa chú ý đầy đủ việc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của mình và nghiên cứu kinh nghiệm của các nước anh em. 

Từ thực tiễn cách mạng, cả thành công và khuyết điểm sai lầm, Đại hội VI đã rút ra 4 bài học kinh nghiệm, trong đó có bài học “Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan”.

Tiêu chuẩn đánh giá sự vận dụng đúng đắn các quy luật thông qua chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là sản xuất, phát triển lưu thông thông suốt, đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân từng bước được ổn định và nâng cao, con người mới XHCN ngày càng được hình thành rõ nét, xã hội ngày càng lành mạnh, chế độ XHCN được củng cố. Mọi chủ trương, chính sách gây tác động ngược lại là biểu hiện sự vận dụng không đúng quy luật khách quan, phải được sửa đổi hoặc bãi bỏ… 

Bài 3: Thành tựu thời kỳ đổi mới ở Việt Nam: Con đường đi lên CNXH hình thành những nét cơ bản 

NGUYỄN VIẾT THÁI

>> Bài 1: Chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu - Vì sao sụp đổ?

In trang Về đầu trang

CÁC TIN, BÀI KHÁC >>
Hội thảo về mối quan hệ giữa xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN   (07/10/2009,00:05)
Những người lính ở Bệnh viện 7A  (06/10/2009,23:35)
Nhân sự mới  (06/10/2009,02:40)
Bài 1: Chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu - Vì sao sụp đổ?  (06/10/2009,01:59)
Thái Nguyên: Trang bị sách cho xã An toàn khu  (06/10/2009,00:11)
Hoàn chỉnh thêm một bước quan trọng các dự thảo văn kiện sẽ trình Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng   (05/10/2009,16:03)
Bộ đội Tăng - Thiết giáp đón nhận Huân chương Sao vàng   (05/10/2009,01:10)
Cao Bằng kỷ niệm 510 năm thành lập tỉnh   (04/10/2009,02:24)
Nhà trường phải công khai chất lượng giáo dục và hệ thống văn bằng, chứng chỉ  (03/10/2009,09:48)
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết kết thúc chuyến thăm Chile  (03/10/2009,03:30)