Hỏi: Cha mẹ chúng tôi có 7 người con. Mẹ mất sớm, cha kết hôn với vợ kế và tạo lập được một căn nhà. Tháng 9-2007, cha chúng tôi có lập di chúc tại phòng công chứng và đến tháng 10-2008 ông chết. Thế nhưng mẹ kế của chúng tôi không công bố di chúc mà đã tự ý làm thủ tục khai nhận di sản.
Ngày 9-2-2009, sau nhiều lần yêu cầu được xem di chúc của cha chúng tôi, người mẹ kế mới cho chúng tôi xem. Bản di chúc có nội dung: “Nhà để ở và thờ cúng, không bán” và số người có tên trong hộ khẩu của căn nhà được ở là mẹ kế cùng 2 con, một dâu và 3 đứa cháu của bà sử dụng.
Xin hỏi: Việc mẹ kế chúng tôi không công bố di chúc có đúng hay không? Di chúc không ghi người được thừa kế, không chỉ định người quản lý di sản thì xác định ai được quyền thừa kế và ai là người quản lý di sản? Nhà dùng để thờ cúng thì mẹ kế có được quyền định đoạt căn nhà như bán hoặc cho thuê căn nhà hay không; nếu bán nhà thì chúng tôi có được quyền ngăn chặn không, chúng tôi có được hưởng lợi từ tiền cho thuê nhà không?
Trả lời: Theo hướng di chúc cha bạn đã lập là hợp pháp. Đồng thời, vì căn nhà là tài sản chung của cha bạn và mẹ kế nên xác định di sản thừa kế do cha bạn để lại là 1/2 giá trị căn nhà mà bạn đề cập.
Trong di chúc không chỉ định người thừa kế nên việc xác định người có quyền thừa hưởng di sản sẽ áp dụng theo quy định của Điều 676 - Bộ luật Dân sự về người thừa kế theo pháp luật. Theo đó, những người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của cha bạn gồm mẹ kế, 7 anh em bạn và 2 người con chung của cha bạn, mẹ kế. Việc cha bạn cho một số người nhất định ở không đồng nghĩa với việc cha bạn chỉ định họ là người thừa kế của cha bạn.
Đối với việc công bố di chúc, thì người quản lý di sản có trách nhiệm công bố di chúc cho tất cả những người thừa kế (Điều 639, 672 BLDS). Các anh em bạn đều là người thừa kế của cha bạn, nên mẹ kế không công bố di chúc cho anh em bạn, cũng như không cung cấp bản sao di chúc là không đúng với quy định của pháp luật.
Riêng đối với vấn đề người quản lý di sản, theo quy định của pháp luật, khi vợ hoặc chồng chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản (Điều 638 BLDS, Điều 32 Luật Hôn nhân và Gia đình). Trường hợp của bạn, vì trong di chúc không chỉ định người quản lý di sản, nên trước khi những người thừa kế thống nhất cử ra người quản lý di sản thì người quản lý di sản chính là mẹ kế của bạn.
Cha bạn đã xác định di sản được dùng vào mục đích thờ cúng thì phần di sản này không được chia thừa kế. Vì vậy, những người thừa kế sẽ không được bán phần di sản do cha bạn để lại trong căn nhà này (Điều 670 BLDS). Riêng mẹ kế của bạn, vì 1/2 giá trị căn nhà là thuộc quyền sở hữu của bà nên bà có toàn quyền định đoạt (bán, tặng, cho,…) đối với phần tài sản này, nhưng phải xác định rõ diện tích và vị trí phần 1/2 căn nhà của mẹ kế là phần nào trong căn nhà. Các đồng thừa kế có thể cùng thỏa thuận về việc này.
Khi phần trước căn nhà được cho thuê thì cần xác định phần căn nhà cho thuê là thuộc di sản do cha bạn để lại hay thuộc quyền sở hữu của người mẹ kế; từ đó, xác định phần tiền thuê nhà có là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản thừa kế không, hoặc chỉ thuộc sở hữu của mẹ kế.
LS PHẠM QUANG HIỆP