Dinh dưỡng cho trẻ giai đoạn tiền dậy thì và dậy thì

        Ba giai đoạn phát triển chiều cao vượt trội của trẻ

- Giai đoạn trong bào thai: Trong 9 tháng mang thai, nếu người mẹ được ăn uống tốt, tăng từ
10-12kg thì con sẽ đạt được chiều cao 50cm lúc chào đời và nặng từ 3kg trở lên.

- Giai đoạn sơ sinh đến 3 tuổi: 12 tháng đầu trẻ tăng 25cm; 2 năm tiếp theo mỗi năm trẻ cao thêm 10cm nếu được nuôi dưỡng tốt.

Bên cạnh chế độ dinh dưỡng hợp lý, cần khuyến khích trẻ có lối sống năng động, tập thể dục thể thao thường xuyên. Vì đây là giai đoạn cuối cùng để trẻ tăng tốc chiều cao, sau khi dậy thì trẻ sẽ cao rất chậm, thậm chí không tăng chiều cao nữa. Các môn thể thao giúp trẻ tăng chiều cao như bơi, chạy, đạp xe, bóng rổ, cầu lông… Trẻ cũng cần ngủ đủ giấc, ngủ sâu, giúp hormon tăng trưởng tiết ra nhiều, kích thích xương dài hơn.

- Giai đoạn dậy thì (bao gồm tiền dậy thì và dậy thì): Tuổi tiền dậy thì của trẻ em Việt Nam thông thường là 9-11 tuổi với nữ và 12-14 tuổi với nam. Lứa tuổi này, chiều cao của trẻ tăng rất nhanh, trẻ nữ tăng khoảng 6cm/năm và trẻ nam tăng 7cm/năm hoặc hơn nữa nếu dinh dưỡng, vận động hợp lý. Khi đến tuổi dậy thì (12-13 đối với nữ và 15-16 đối với nam), sức lớn chậm lại, mỗi năm tăng khoảng 2cm.

Tuy nhiên, trong thực tế, giai đoạn này ở mỗi trẻ mỗi khác và chúng ta không thể biết chính xác ranh giới tiền dậy thì và dậy thì của từng trẻ, do đó nên đảm bảo dinh dưỡng tốt cho trẻ suốt cả giai đoạn tiền dậy thì và dậy thì để giúp trẻ phát triển. Vì sau thời kỳ dậy thì, cơ thể trẻ cũng tăng chiều cao nhưng với tốc độ rất chậm, tổng cộng mức tăng chiều cao của các năm sau không bằng một năm chiều cao tăng vọt trong thời kỳ tiền dậy thì.

        Dinh dưỡng giai đoạn tiền dậy thì và dậy thì

Đây là giai đoạn trẻ phát triển mạnh, nhanh về thể lực. Có sự thay đổi của hệ thần kinh, nội tiết mà nổi bật là sự hoạt động của các tuyến sinh dục tăng lên, gây ra những biến đổi về hình thức và sự tăng trưởng của cơ thể trẻ. Tuổi này trẻ hoạt động nhiều, nên cần phải có một chế độ dinh dưỡng thật tốt cho trẻ phát triển hết tiềm năng.

        Nhu cầu năng lượng

Mỗi ngày, trẻ cần 2.200-2.600 calo, tương đương người trưởng thành. Nếu không cung cấp đúng và đủ, trẻ sẽ bị thiếu hụt dinh dưỡng dẫn đến chậm hoàn thiện và phát triển các bộ phận cơ thể. Lượng đạm cần cao hơn người trưởng thành, giúp trẻ phát triển cơ bắp, nên chiếm 14-15% tổng số năng lượng trong khẩu phần, tương đương 70-80g/ngày, chú ý đạm động vật nhiều sắt giúp phòng chống thiếu máu, cũng như cung cấp vật liệu để xây dựng các cấu trúc tế bào và hoàn thiện phát triển các nội tiết tố về giới tính, tham gia hệ miễn dịch nhằm tăng sức đề kháng. Chất béo (dầu, mỡ) nên chiếm 20-25% năng lượng khẩu phần, là nguồn cung cấp năng lượng, giúp cơ thể hấp thụ vitamin tan trong chất béo như A, D, E, K, nên cho trẻ ăn cả mỡ động vật và dầu thực vật, khoảng 40-50gr mỗi ngày. Chất bột đường cung cấp năng lượng chính cho cơ thể chiếm 60-70% năng lượng, có trong gạo, bột mì, sản phẩm chế biến, khoai, củ… Nên chọn lựa những loại bột đường thô để cung cấp chất xơ tốt cho đường tiêu hóa và phòng chống béo phì.

        Vitamin và khoáng chất

Calci: Đặc biệt cần thiết cho lứa tuổi dậy thì, calci là chất dinh dưỡng chính tham gia cấu trúc hệ xương, nếu thiếu sẽ ảnh hưởng đến sức lớn và sự vững chắc của xương. Được cung cấp đầy đủ calci, xương sẽ chắc khỏe và độ đậm xương đạt mức tối đa, giúp trẻ phát triển tốt về chiều cao và phòng được bệnh loãng xương sau này. Tuổi này, mỗi ngày, trẻ cần 1.000-1.200mg calci. Calci có nhiều trong sữa và các chế phẩm của sữa như phô mai, sữa chua, trong những loại đậu, các loại thủy sản như tôm, cua, hàu, nghêu, sò, hến... các loại cá nhỏ kho nhừ ăn cả xương... Nên cho trẻ uống ít nhất 500-600ml sữa/ngày.

Sắt: Nhu cầu ở bé trai khoảng 12-18mg sắt/ngày, nhu cầu bé gái cao hơn, 20mg sắt/ngày. Sắt có nhiều trong thịt, phủ tạng động vật: gan, tim, thận… lòng đỏ trứng, đậu, rau xanh (rau ngót, rau muống...). Thiếu sắt, trẻ sẽ bị thiếu máu gây ra các triệu chứng mệt mỏi, hay quên, buồn ngủ, da xanh…

Kẽm: Là một yếu tố vô cùng quan trọng giúp sản sinh, thúc đẩy và điều hòa các hormon tăng trưởng IGF- I và hormon sinh dục, giúp trẻ có thể phát huy hết tiềm năng phát triển của cơ thể một cách toàn diện trong giai đoạn tiền dậy thì và dậy thì, nhu cầu từ 10-20mg/ngày, có nhiều trong thức ăn nguồn gốc động vật.

Iod: Cần khoảng 15mcg/ngày. Iod có nhiều trong hải sản và phải sử dụng muối iod khi nấu ăn. Thiếu iod, trẻ sẽ bị bướu cổ, kém thông minh...

Vitamin
: Nhu cầu vitamin nhóm B, C, A, D, acid folic... cũng cao do tăng chuyển hóa năng lượng. Vì vậy, cần phải ăn đa dạng thực phẩm và những thực phẩm tươi càng ít qua chế biến thì càng ít mất chất dinh dưỡng. Lượng rau cần thiết trong ngày là 300-500g.

BS CK1 Trần Thị Minh Nguyệt
Thành viên HĐQT Công ty NutiFood

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Diễn biến mới nhất dịch viêm đường hô hấp cấp Covid-19

Diễn biến mới nhất dịch viêm đường hô hấp cấp Covid-19

Tính đến 11 giờ ngày 3-12-2020 đã có 64.844.711 ca xác nhận mắc Covid-19, có 1.499.346 ca tử vong trên thế giới (Mỹ: 14.313.941 ca mắc, 279.865 tử vong; Ấn Độ: 9.534.964 ca mắc, 138.657 ca tử vong; Brazil: 6.436.650 ca mắc, 174.531 ca tử vong; Nga: 2.347.401 ca mắc, 41.053 ca tử vong). Tại Việt Nam, có 1.358 trường hợp mắc bệnh, trong đó có 1.201 ca đã được chữa khỏi, 35 ca tử vong.

Thuốc

Nguy hiểm khi sử dụng thuốc giảm đau không đúng cách

Thuốc giảm đau là các thuốc nhằm điều trị triệu chứng, làm giảm các cơn đau cấp tính hoặc mạn tính. 2 nhóm thuốc phổ biến nhất có thể được phép bán không cần đơn tại các hiệu thuốc là paracetamol và nhóm kháng viêm không chứa steroid, viết tắt là NSAIDs (Nonsteroidal anti-inflammatory drugs).