Làm rõ sự khác nhau
Đối với nội dung Báo cáo tài chính riêng của công ty mẹ - EVN và Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2025 đã được các cơ quan báo chí đề cập, EVN cho biết việc lập các báo cáo này được thực hiện tuân thủ các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam và các quy định pháp lý liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính. Các báo cáo tài chính nêu trên đã được Công ty TNHH Kiểm toán Deloitte Việt Nam thực hiện kiểm toán và cho ý kiến khách quan.
Theo Báo cáo tài chính riêng của công ty mẹ - EVN năm 2025 đã được kiểm toán, lợi nhuận sau thuế của công ty mẹ - EVN năm 2025 đạt 39.762 tỷ đồng, số lỗ lũy kế đến hết năm 2025 của công ty mẹ EVN còn -5.611 tỷ đồng. EVN cho biết đã có văn bản số 2697/EVN-TTVHDN+TCKT ngày 14-5-2026 báo cáo Bộ Công thương về số lỗ lũy kế đến hết năm 2025 của công ty mẹ - EVN.
Theo Báo cáo tài chính hợp nhất của EVN, chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế hợp nhất toàn tập đoàn là 51.881 tỷ đồng, trong đó phần thuộc Công ty mẹ là 50.511 tỷ đồng (chỉ tiêu số 61 tại Mẫu số B 02-DN/HN). Chỉ tiêu này bao gồm lợi nhuận của công ty mẹ - EVN và lợi nhuận thuộc công ty mẹ - EVN tại các công ty con, tương ứng với tỷ lệ sở hữu của EVN tại các đơn vị này và các công ty liên kết. EVN cho biết đây là nguyên nhân khiến số liệu tại báo cáo hợp nhất khác với số liệu trình bày tại Báo cáo tài chính riêng của công ty mẹ - EVN. Theo EVN, chỉ tiêu số 61 tại Báo cáo tài chính hợp nhất cũng chưa xét tới việc trích lập các quỹ ở các công ty con và phương án phân phối, giữ lại lợi nhuận theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông.
EVN cho rằng việc đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh cần nêu rõ sử dụng số liệu tại báo cáo của Công ty mẹ - EVN hay tại báo cáo hợp nhất toàn tập đoàn. Theo báo cáo tài chính đã được kiểm toán, lợi nhuận sau thuế của công ty mẹ - EVN năm 2025 đạt 39.762 tỷ đồng, số lỗ lũy kế của công ty mẹ EVN đến cuối năm 2025 còn -5.611 tỷ đồng. Trong khi đó, lợi nhuận sau thuế hợp nhất năm 2025 đạt 51.881 tỷ đồng và không còn lỗ lũy kế hợp nhất.
EVN đề nghị việc đánh giá số liệu căn cứ theo Báo cáo tài chính riêng năm 2025 của công ty mẹ EVN đã được kiểm toán nhằm phản ánh đúng tình hình sản xuất kinh doanh điện, đồng thời đảm bảo tính nhất quán với hệ thống số liệu đã báo cáo trong các năm trước.
EVN lý giải về số dư tiền gửi
Về số dư tiền gửi có kỳ hạn tại Báo cáo tài chính hợp nhất, EVN cho biết tổng số tiền gửi ngân hàng hợp nhất cuối năm 2025, bao gồm tiền, tương đương tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, đạt 152 nghìn tỷ đồng. Đây là số liệu tổng hợp từ tất cả báo cáo tài chính của các đơn vị thành viên, bao gồm các đơn vị phát điện, truyền tải điện, phân phối điện và dịch vụ phụ trợ.
Theo EVN, nếu so với số dư nợ ngắn hạn tại cùng thời điểm là hơn 227 nghìn tỷ đồng thì mức tiền gửi 152 nghìn tỷ đồng vẫn chưa thể đáp ứng việc trả nợ ngay cho các nhà cung cấp nhiên liệu và thanh toán tiền mua điện từ các nhà máy điện ngoài EVN với tổng giá trị hơn 118 nghìn tỷ đồng. Cùng với đó, tập đoàn còn phải trả nợ vay đến hạn hơn 47 nghìn tỷ đồng. EVN cho rằng điều này cho thấy nhu cầu vốn cho đầu tư và sản xuất kinh doanh của tập đoàn và các đơn vị thành viên là rất lớn. Vì vậy, số dư tiền gửi cần được xem xét tổng thể cùng với số nợ phải trả của EVN và các đơn vị thành viên.
EVN cho biết việc duy trì số dư tiền gửi là cần thiết để tập đoàn và các đơn vị thành viên có nguồn lực phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh và hoàn thành các nhiệm vụ được giao.
Theo đó, các đơn vị phát điện cần có số dư tiền lớn để mở Thư tín dụng (L/C) thanh toán cho các đơn vị cung cấp nhiên liệu trong nước hoặc nhập khẩu. Đối với công ty mẹ EVN, doanh nghiệp này phải đảm bảo thanh toán hàng tháng cho các nhà đầu tư bên ngoài bán điện cho EVN. EVN cho biết trong thời gian qua giá nhiên liệu đầu vào diễn biến khó lường và có thời điểm tăng cao đột biến. Để đảm bảo không ảnh hưởng đến an ninh cung ứng điện, EVN và các đơn vị phát điện phải cân đối dòng tiền và có dự phòng thích hợp.
EVN cũng cho biết số dư nợ vay của tập đoàn và các đơn vị ở mức lớn, riêng dư nợ vay ngắn hạn đã lên tới 47 nghìn tỷ đồng. Điều này đòi hỏi EVN phải đảm bảo khả năng sẵn sàng trả nợ vay và duy trì tín nhiệm tín dụng.
Đối với mục tiêu cung ứng điện dài hạn, EVN cho biết nhu cầu đầu tư xây dựng của tập đoàn và các đơn vị hiện rất lớn, trong đó có nhiều dự án nguồn và lưới điện cấp bách, trọng điểm với yêu cầu vốn đầu tư lớn. Vì vậy, các đơn vị phải đảm bảo cung cấp đủ vốn theo kế hoạch, đồng thời có dự phòng trong trường hợp chậm giải ngân từ nguồn vốn tín dụng để đảm bảo tiến độ các dự án đã được giao.