Nhận diện điểm nghẽn
Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong 7 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 2,13 triệu tỷ đồng, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực ngoài nhà nước đạt 1,14 triệu tỷ đồng, chiếm 53,7%; khu vực nhà nước đạt 601.200 tỷ đồng, chiếm 28,3%; còn khu vực FDI đạt 384.400 tỷ đồng, chiếm 18%. Cơ cấu này cho thấy khu vực tư nhân đang là động lực đầu tư lớn nhất của nền kinh tế nhưng khả năng tiếp cận các nguồn vốn trung hạn và dài hạn vẫn còn nhiều hạn chế.
Bà Lâm Thúy Ái, Tổng Giám đốc Công ty CP Mebifarm, cho biết doanh nghiệp vừa đầu tư nhà máy sản xuất trứng với tổng vốn khoảng 600 tỷ đồng. Phần lớn nguồn vốn phải vay từ ngân hàng với lãi suất trung hạn 10,5%/năm. Chi phí vốn cao tạo áp lực ngay từ giai đoạn đầu tư, làm tăng giá thành sản phẩm, kéo dài thời gian hoàn vốn và hạn chế khả năng mở rộng sản xuất. Đây là thực trạng chung của nhiều doanh nghiệp trong nước khi vận hành kinh doanh cơ bản phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Trong khi đó, trên thế giới có nhiều nguồn vốn khác nhau như quỹ đầu tư, quỹ tín dụng, quỹ hưu trí, tín dụng xanh, các định chế tài chính phát triển và quỹ đầu tư dài hạn sẵn sàng cấp vốn với chi phí thấp hơn nếu doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn về quản trị và minh bạch. “Khi có nhiều kênh dẫn vốn cùng tham gia, doanh nghiệp sẽ có thêm lựa chọn phù hợp với từng giai đoạn phát triển, đồng thời thu hút mạnh hơn dòng vốn quốc tế, giảm chi phí vốn cho khu vực sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn”, ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TPHCM, nhấn mạnh.
Nhìn từ thực tiễn, ông Trần Ngọc Anh, Phó Chủ tịch Hội Doanh nghiệp Trung tâm Sài Gòn, nhìn nhận dù nhiều chính sách mới đã góp phần củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp nhưng khoảng cách giữa chính sách và thực thi vẫn còn khá lớn. Hai điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là vốn và chuyển đổi số. Phần lớn tài sản của doanh nghiệp siêu nhỏ nằm ở kinh nghiệm, uy tín và dòng tiền kinh doanh, trong khi việc thẩm định tín dụng vẫn chủ yếu dựa trên tài sản thế chấp, khiến nhiều doanh nghiệp khó tiếp cận vốn đúng thời điểm cần mở rộng sản xuất. Bên cạnh đó, chuyển đổi số vẫn là bài toán nan giải do thiếu nhân lực, chi phí đầu tư lớn và chưa có nhiều giải pháp phù hợp với quy mô doanh nghiệp.
Thay đổi để vươn mình
Để tháo gỡ các điểm nghẽn này, theo ông Ngọc Anh cần phát triển quỹ bảo lãnh tín dụng vi mô, đổi mới phương thức thẩm định theo hướng đánh giá dòng tiền và hiệu quả kinh doanh; xây dựng các chương trình chuyển đổi số theo hướng “cầm tay chỉ việc” cho từng nhóm doanh nghiệp; đẩy mạnh số hóa và liên thông dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhằm giảm chi phí tuân thủ, giúp doanh nghiệp tiếp cận chính sách và nguồn vốn thuận lợi hơn.
Trong khi đó, đối với doanh nghiệp cần có sự thay đổi toàn diện mới có thể “lớn lên”. Trên thực tế, những doanh nghiệp chủ động nâng chuẩn quản trị, minh bạch tài chính và chuyển đổi xanh đang tiếp cận được các dòng vốn mới với chi phí cạnh tranh hơn. Trường hợp tiêu biểu là Công ty CP Kho lạnh Kỷ Nguyên Mới (NECS), đang vay nguồn vốn xanh từ Nam A Bank với lãi suất thấp hơn khoảng 2%-3% so với thông thường. Nguồn vốn được sử dụng đầu tư hệ thống kho lạnh tự động, trong đó robot đảm nhiệm phần lớn hoạt động vận hành. Mô hình giúp doanh nghiệp giảm tiêu thụ năng lượng, phát thải CO2, hạn chế thất thoát hàng hóa và giảm phụ thuộc vào lao động trực tiếp trong môi trường kho lạnh. Doanh nghiệp cũng đầu tư điện mặt trời áp mái, qua đó tiết giảm khoảng 25%-33% chi phí điện. Đại diện doanh nghiệp này nhận xét, trở ngại lớn nhất khi tiếp cận vốn xanh là các tiêu chuẩn rất khắt khe, không phải doanh nghiệp nào cũng đáp ứng được.
Về nguồn vốn xanh, ông Võ Hoàng Hải, Phó Tổng Giám đốc Nam A Bank, cho biết từ đầu năm đến nay ngân hàng đã huy động khoảng 350 triệu USD vốn xanh từ các định chế tài chính quốc tế và đã giải ngân hết. Nguồn vốn chủ yếu được phân bổ cho các dự án điện mặt trời áp mái tại khu công nghiệp, kho lạnh, logistics tiết kiệm năng lượng và nông nghiệp công nghệ cao đạt chứng nhận - những lĩnh vực có dòng tiền ổn định và đáp ứng tiêu chí của các tổ chức tài chính quốc tế. Thực tế cho thấy các dòng vốn xanh luôn có nhu cầu tìm kiếm dự án phù hợp, vấn đề là doanh nghiệp phải đáp ứng các tiêu chuẩn về quản trị, minh bạch và phát triển bền vững. Để mở rộng khả năng tiếp cận vốn xanh, ông Võ Hoàng Hải đề xuất phát triển mô hình tài trợ chuỗi cung ứng xanh, qua đó đưa nguồn vốn từ các định chế tài chính phát triển đến doanh nghiệp nhỏ và vừa trong chuỗi xuất khẩu - nhóm chịu áp lực chuyển đổi xanh nhưng còn hạn chế khả năng tiếp cận vốn quốc tế. Đồng thời, cần nghiên cứu hình thành sàn giao dịch tập trung đối với trái phiếu xanh và tín chỉ carbon nhằm tăng thanh khoản, minh bạch hóa giao dịch và mở thêm kênh huy động vốn cho các dự án chuyển đổi xanh.
Ở góc độ dài hạn, TS Cấn Văn Lực cho rằng doanh nghiệp phải đổi mới quyết liệt, như tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo, trí tuệ nhân tạo (AI), chuyển đổi số và chuyển đổi xanh nhằm nâng năng suất và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế. Điều này sẽ tạo thành bệ phóng cho doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.