Điều 147 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 đã có quy định về việc xử lý hình sự đối với người đang có vợ có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng có vợ, gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
Tuy nhiên, vẫn chưa có bất kỳ văn bản nào hướng dẫn cách xác định “hậu quả nghiêm trọng” nên điều luật này gần như mất tính khả thi. Để khắc phục lỗ hổng này, Điều 182 BLHS năm 2015 đã quy định rõ hơn về hậu quả nghiêm trọng, cụ thể là “làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn”. Ngoài ra, tại khoản 2 điều luật này cũng quy định cụ thể tình tiết tăng nặng định khung hình phạt, cụ thể là “làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát”.
Theo luật định, việc chung sống như vợ chồng phải được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó. Tuy nhiên, trong thực tế xã hội hiện nay, việc chứng minh người phạm tội vi phạm chế độ một vợ một chồng này là rất khó khăn. Làm sao có được lời chứng của hàng xóm là chồng (vợ) mình đang sống chung với người khác như vợ chồng khi họ luôn có suy nghĩ “chuyện vợ chồng đóng cửa bảo nhau, người ngoài không can thiệp”. Đối với việc chứng minh tài sản chung càng khó khăn và bất khả thi hơn khi người thứ ba sẽ đứng tên trên các tài sản bắt buộc đăng ký (bất động sản, xe...) với tư cách một mình là chủ sở hữu. Việc chứng minh có con chung thì trước hết phải thu thập được giấy khai sinh có thông tin cả cha và mẹ, sau đó phải chứng minh họ chung sống với nhau như vợ chồng dẫn đến có con chung. Nếu giấy khai sinh chỉ có tên người mẹ và khuyết thông tin cha thì không thể nào chứng minh mối quan hệ cha con để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi phạm tội như luật định.
Ngoài ra, các căn cứ để xác định hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 182 BLHS năm 2015 cũng chưa rõ ràng. Hành vi “làm cho quan hệ hôn nhân của một bên (hoặc hai bên) dẫn đến ly hôn” được xem là hoàn thành khi nào? Chỉ cần một bên nộp đơn khởi kiện về việc ly hôn là thỏa mãn điều kiện hay phải chờ khi có bản án, quyết định của tòa án về việc giải quyết ly hôn có hiệu lực thì mới được xem là hậu quả nghiêm trọng? Tương tự, hành vi “làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát” thì chỉ cần một trong các chủ thể trên thực hiện hành vi tự sát hay bắt buộc phải gây ra hậu quả chết người thì mới thỏa mãn điều kiện cấu thành tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng?
Nói tóm lại, nhà làm luật cần cụ thể hóa các căn cứ cấu thành tội phạm tại Điều 182 BLHS năm 2015 để pháp luật có thể đi vào đời sống, bảo vệ được các mối quan hệ hôn nhân và hạnh phúc của các gia đình. Trong thời gian tới, pháp luật hình sự nói riêng và pháp luật Việt Nam nói chung cần cụ thể hóa, chi tiết hóa để pháp luật được áp dụng một cách thống nhất và dễ dàng hơn trên thực tế.
Luật sư PHAN VŨ TUẤN
(Văn phòng Luật sư Phan Law Vietnam)