Tôi quen biết anh Ba từ dạo ở cái thành phố Sài Gòn này còn phải xài cây bút bi bơm mực.
Anh Ba ngồi đằng sau cái thùng ván thông kê ở vỉa hè, treo tấm bảng có dòng chữ nguệch ngoạc do tự tay anh vẽ: “Bơm mực bút bi, vô địch!”.
Cái thùng gỗ càng thấp lè tè do anh Ba, dẫu cho có ngồi cũng là một con người cao quá khổ. Một mét tám lăm. Cho nên thùng và người ghép lại, trông nghiêng nghiêng tựa như con thuyền mắc cạn trên vỉa hè.
Mỗi khi anh Ba đứng lên hay di chuyển, mà kinh niên là đi bộ, anh thường gây ấn tượng vì cái dáng cao lêu khêu. Do đốt sống cổ sau gáy cà vẹo sang một bên nên cái đầu hơi bị khòm, làm chao nghiêng khuôn mặt rất đỗi hiền từ, một nụ cười vô cùng phẳng lặng gợi lên vẻ đẹp của sự nhẫn nại và nét từ bi hiếm thấy giữa chốn chợ đời cạnh tranh kiếm sống.
Tôi viết văn lang thang nên thường hay ghé anh bơm mực bút bi và rảnh rang ngồi lại tán gẫu bên vệ đường. Cả hai nhâm nhi ly cà phê đen pha chế từ bắp, đậu nành, nhựa cau, hút điếu thuốc lá “củi bó năm chục điếu” xắt từ lá và râu bắp.
Còn câu chuyện của chúng tôi thường lạc quan... tếu. Thời ấy, thế giới tiến bộ tới đâu thì mặc họ. Còn chúng tôi, với mối từ tâm và sự vui vẻ, cứ thả trôi theo kiếp bụi đời để kiếm sống.
Rồi giai đoạn bơm bút bi cũng xẹp. Anh Ba hỏi tôi: “Giờ thì làm gì kiếm cơm há?”. Tôi cũng tịt ngòi. Bởi thân mình vốn là tay bán thất nghiệp kinh niên, lương ảo nhiều hơn... lương thực.
Còn nhạc sĩ Hoàng Thông là một người đàn ông nhỏ thó, gầy gò với khuôn mặt trắng trẻo, đầu mũi to nổi sắc đỏ và chiếc cằm dày dư dả chiều dài. Tuy nhiên anh có đôi mắt luôn ánh lên một tình cảm nồng ấm và nụ cười hiền lành như cơn gió thoảng.
Anh chơi đàn cho các khu vui chơi, biểu diễn tạp kỹ, hội chợ tụ tập vào các dịp lễ lạt nên thu nhập “cũng có vẻ vui chơi” thất thường. Có lẽ do không chịu nổi cảnh đồng lặn, đồng mọc, đồng mơ hồ xa vắng, nên cô vợ trẻ ốm yếu xanh xao đã lặng lẽ bỏ chồng bỏ con sang... xe với gã tài xế vận tải đường dài.
Thế là nhạc sĩ ngoài giờ ôm đàn kiếm cơm lại phải ôm con ru bằng các bài ca tự mình sáng tác.
Anh cao kều, chàng nhạc sĩ và tôi đều là bạn nghèo vất vả mưu sinh.
Ít lâu sau, lang thang hẻm hốc, tôi gặp anh Ba tay xách, vai mang hàng chục chiếc can nhựa loại năm lít, mồm rao mỗi một tiếng ngắn ngủn, giật mạnh nghe khá là kỳ cục: “Hế!”.
Té ra anh đi bán dạo dầu hôi, thuốc tẩy.
Tôi hỏi: “Sao rao kỳ vậy?”. Anh trợn mắt, cười đáp: “Chớ rống lên cả câu, ai mua dầu hôi thuốc tẩy đây chắc thiên hạ giật mình điếc tai, còn ai mua nữa”.
Quả có lý! Vì âm lượng giọng nói của anh Ba lúc bình thường đã “bề bộn” đềxiben, rao lớn dễ làm lỗ nhĩ “tức thở”, mất cảm tình với khách hàng.
Ngẫm nghĩ, tôi bảo: “Anh giỏi thiệt! Biết dùng mỗi một âm thanh độc chiêu làm tín hiệu báo cho các bà nội trợ, khỏi phải xài cả câu dài thoòng loòng. Té ra anh đang hòa nhập vào hiện đại cùng năm châu bốn bể”. Gãi gãi đầu, anh Ba cười đáp: “Làm bậy không ngờ được đánh giá cao”.
Thế rồi đến hồi hàng hóa phát triển, các bà nội trợ không còn phải mua dầu hôi, thuốc tẩy bán dạo nữa. Anh Ba gặp tôi, lại hỏi: “Giờ làm gì kiếm cơm há?”. Cây bút cùn như tôi lại tắc tị.
Còn anh chàng nhạc sĩ, đêm khuya khoắt cõng đứa con ngủ lặc lìa trên lưng trở về xóm vắng, sau khi bán xong tiếng đàn ở một khu vui chơi tạp kỹ.
Thấy tôi cũng thức khuya, ngồi chơi thơ thẩn bên cột đèn nhả ánh sáng vàng ệch đầu hẻm, nhạc sĩ liền rủ: “Lên gác nghe nhạc thương xóm nghèo chơi”.
Lên đến gian gác hẹp, đặt thằng bé nằm yên đâu đó xong, anh khoan khoái nói: “Giờ tạm nghỉ làm cha, trở lại kiếp tằm nhả tơ âm thanh”.
Rồi anh lục ra cho tôi xem hàng chục bản nhạc được kẻ nắn nót rất đẹp, mỗi bản đều được sao chụp ra nhiều tờ. “Mình sáng tác đó”. Anh hào hứng nói: “Mình kẻ nhạc, in thật nhiều bản để tặng bạn bè, nhạc sĩ, ca sĩ...”.
Anh lấy mỗi bản nhạc một tờ. Vậy mà cũng đến cả xấp dày, ký rẹt rẹt như bay múa nơi góc để tặng tôi.
Rồi ôm cây đàn ghi ta cũ mèm, anh xúc động khẽ nói: “Nghe với mình bài mới sáng tác”. Và anh hát: “Thương hẻm buồn... Gió lùa đêm trôi qua”...
Tôi nghe anh rỉ rả hát đến lúc nửa đêm về sáng, và cả hai nằm lăn ra sàn gác ngủ mệt tự lúc nào không hay.
Trong giấc mơ, tôi thấy các bản nhạc lẻ loi nơi u tối chưa hề được ai biết đến này bỗng đang lộng lẫy ngân vang trên sân khấu rạng rỡ ánh đèn màu.
Ít lâu sau, trong cuộc lang thang vô tận tôi lại gặp anh Ba chở trong chiếc giỏ trước xe đạp tồi tàn mấy bình gas bơm quẹt. Anh cũng mỗi một tiếng rao “tín hiệu”: “Hế!”. Tôi hỏi: “Sao cũng tiếng rao cũ?”. Anh đáp: “Bình cũ rượu mới. Có sao đâu”.
Thế nhưng giá bơm gas mới cho một chiếc quẹt cũ cũng mau chóng bị tàn lụi. Bởi chiếc quẹt gas mới cáu cạnh kèm theo hình cô gái nước ngoài mặc áo tắm mát mẻ cũng chỉ bằng giá đó. Vì thế các bà nội trợ, các đấng mày râu phì phèo thuốc lá ngoảnh mặt làm ngơ với anh.
Trong khi đó trên căn gác hẹp, nhạc sĩ Hoàng Thông lại vất vả với đứa con lâm bệnh nặng. Cái thân gà trống nuôi con đâm ra quýnh quáng như... gà mái mắc đẻ.
Anh nằm vật vạ suốt theo đứa con trong bệnh viện nhi đồng, mắt thụt sâu, má hõm nhô gò đống, túi trên túi dưới đều xa vắng hơi tiền.
Rồi một bận, anh Ba kể tôi nghe câu chuyện rắc rối về chỗ ở: “Ba má qua đời, để lại cho mình với đứa em gái ngôi nhà nhỏ mái tôn vách ván có tầng gác. Em gái mình lấy phải gã chồng bụng dạ xấu, rắp tâm giành hết ngôi nhà. Đêm mình phải ra ngủ ngoài lan can gác”.
Tôi hỏi: “Sao chịu bất công vậy?”. “Thương nhỏ em, sợ vợ chồng nó lục đục mất hạnh phúc. Rồi nó nói nhà chật, sắp sanh em bé, tụi em bán nhà này ra ngoại ô mua miếng đất rộng hơn ở. Rồi nó bán nhà, dọn đi”.
“Còn anh ở đâu?”. Tôi hỏi. “Biết ở đâu bây giờ?”. Anh Ba đáp. Tôi liền nói: “Đi”.
Tôi đưa anh Ba về ở chung căn gác trọ với mình. Anh nhất định đòi chia sẻ phân nửa tiền thuê phòng. Từ chối mãi không được nên tôi đành nhận. Số tiền tuy nhỏ, nhưng cũng làm “vơi nhẹ” phần nào cây bút cùn của tôi.
Anh Ba về ở chung với tôi được cái hay là ở gần luôn chỗ của nhạc sĩ Hoàng Thông. Nhờ vậy mới thấy anh mê đàn như một tay nghiện. Đêm, tôi làm việc khuya ngủ mất, anh vẫn còn ở bên phòng trọ của nhạc sĩ tỉ tê đến nửa đêm về sáng mới trèo qua lan can mò về, rón rén nằm dài ngoằng ra sàn gác ngủ. Có khi trong giấc mơ anh còn nói mớ, “đàn miệng” du dương. Tôi phải vỗ vào vai anh, “cắt đứt đường tơ” anh mới thôi độc tấu... mồm.
Đùng một cái, có một tên ghiền xì ke ghé thăm gác trọ của nhạc sĩ mà... lười báo trước, nhưng lại tỏ ra tháo vát lục tung mớ đồ bèo dạt mây trôi, gom theo mấy bộ đồ không còn mới lắm và cây đàn ghi ta không thể cũ hơn nữa.
Nhạc sĩ lâm vào cảnh khó có một bộ đồ, không một cây đàn.
Anh Ba liền chia sẻ cho nhạc sĩ một trong hai bộ đồ si-đa mà anh mua vào dạo hành nghề bán vé số. Chỉ có điều, cái quần anh Ba mặc ngắn đến nỗi chó không buồn táp, thì với nhạc sĩ lại dài lệt bệt... lau luôn sàn gác.
Không đàn, nhạc sĩ buồn như cơn mưa chiều lê thê.
Rồi có lẽ lương tâm... cục cựa, cô em gái cầm cho anh Ba món tiền nhỏ bán ngôi nhà. Tính ra, số tiền cũng chẳng khác chi cục thịt băm rồi, còn sót lại tí chút trên mặt thớt. Tuy vậy anh Ba cũng mua được chiếc xe ba gác thùng để bán kem dạo, mấy món đồ lô âm thanh điện tử, phát băng nhạc phục vụ tai và mồm hẳn hoi.
Còn tôi nhận được việc sửa chữa bản in cho mấy tờ “đặc san” thuộc loại... xào nấu sắc đẹp bốn mùa, nên cũng đỡ.
Rủng rỉnh chút tiền, anh Ba và tôi đi mua cây đàn ghi ta mới cáu cạnh về tặng nhạc sĩ mặt đang buồn như đưa đám.
Ôm cây đàn, nhạc sĩ òa khóc. Còn đứa con lại cười, reo lên bảo: “Ba có đàn, có cơm ăn rồi!”.
Và trong làn nước mắt còn loang, nhạc sĩ bỗng tràn trề cảm hứng, sáng tác và hát lên bài ca tình người vừa vui vừa cảm động làm sao!
Vẻ mặt ngây ngây, anh Ba bảo: “Giỏi! Không hát riêng cho tụi mình há”. Tôi đáp: “Ừ. Vượt qua... Hát cho cái gì đó lớn hơn”.
Và cái lớn hơn đó, một phần chính là tôi dạy thằng bé chữ nghĩa, cha nó dạy những âm thanh kỳ diệu, bác Ba dạy nó biết kiên trì, thích nghi với cuộc sống.
Vâng, mấy con tim nhỏ nhắn biết vui cười, dựa vào nhau mà đập.
Võ Phi Hùng