Ký ức những lần được gặp Bác Hồ

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ký ức về Bác Hồ vẫn vẹn nguyên trong lòng những học sinh miền Nam ra Bắc học tập hay những chiến sĩ từng vinh dự được gặp Người. Những câu chuyện được nhắc lại hôm nay không chỉ gợi nhớ về vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, mà còn làm sáng rõ những giá trị nhân văn sâu sắc từ tư tưởng, đạo đức và tình cảm của Người.

Những đứa con miền Nam trong vòng tay của Bác

Ở tuổi ngoài 80, trong căn nhà nhỏ ở phường Vũng Tàu (TPHCM), vợ chồng ông Nguyễn Tuấn Dũng vẫn nâng niu từng bức ảnh cũ đã úa màu thời gian. Mỗi lần mở cuốn album gia đình, ánh mắt người cựu cán bộ công an lại lặng đi khi dừng trước những hình ảnh về Bác Hồ kính yêu.

D3b.jpg
Vợ chồng ông Nguyễn Tuấn Dũng nâng niu từng bức ảnh cũ đã úa màu thời gian và những ký ức không phai về Bác Hồ

Sinh năm 1943 trong gia đình giàu truyền thống cách mạng ở Khánh Hòa, ông Dũng là thế hệ thứ hai trong gia đình có bốn thế hệ công tác trong lực lượng công an nhân dân. Cha ông là cụ Nguyễn Bính, từng nhiều lần tham gia bảo vệ Bác Hồ. Kỷ niệm đáng nhớ nhất của cụ là chuyến Bác thăm vùng mỏ Quảng Ninh năm 1959. Còn ký ức sâu đậm nhất với ông Dũng là những lần được gặp Bác khi còn là học sinh miền Nam tập kết ra Bắc học tập. Đó là năm 1959, tại một hội nghị ở Câu lạc bộ Ba Đình. Đến giờ giải lao, khi nghe tin Bác Hồ tới, đám học sinh ùa đến vây quanh Người. “Đám trẻ chúng tôi ào đến quanh Bác. Tôi len qua đám đông để được sà vào và ôm chặt lấy Bác…”, ông Dũng xúc động nhớ lại. Ông cười hiền khi kể lại sự “láu lỉnh” của mình lúc ấy: “Tôi cứ ngó nghiêng trên vạt áo Bác xem có sợi râu bạc nào rơi ra để nhặt làm kỷ niệm”.

Rồi Bác ôm từng cháu vào lòng, hôn lên trán và ân cần hỏi: “Các cháu ra đây có nhớ nhà, nhớ gia đình không?”. Câu hỏi giản dị mà chan chứa yêu thương ấy đã theo ông Dũng suốt cuộc đời. Với những đứa trẻ xa quê, tình cảm của Bác giống như hơi ấm của người cha dành cho đàn con nhỏ. Không chỉ hỏi han, Bác còn căn dặn học sinh miền Nam phải cố gắng học tập để sau này trở về phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân miền Nam.

Trong những năm học tập ở miền Bắc, ông Dũng còn nhớ như in những lần Bác về thăm trường. Dù nhà trường tổ chức đón tiếp trang trọng ở hội trường, Bác thường không vào ngay mà đi xuống bếp ăn, khu nội trú để xem các cháu ăn ở, sinh hoạt ra sao. Sự quan tâm giản dị ấy khiến những học sinh miền Nam xa quê cảm nhận sâu sắc tình thương đặc biệt của Người.

Trong lòng cậu thiếu niên Nguyễn Tuấn Dũng ngày ấy luôn khát khao giữ lại một kỷ vật về Bác. Ba viên kẹo hạt sen được Bác tặng năm ấy từng được ông cất giữ như báu vật. Ông mang theo suốt những năm tháng trưởng thành cho đến năm 1973, khi hành quân qua dòng suối dữ ở Trường Sơn, những viên kẹo bị nước cuốn trôi. Đến giờ nhắc lại, ông vẫn tiếc nuối mãi không nguôi.

Không riêng ông Dũng, ông Trần Cao Đề (sinh năm 1945, nguyên Giám đốc Sở GTVT tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trước đây) cũng mang theo suốt cuộc đời những lời căn dặn của Bác từ thuở còn là học sinh miền Nam học tập tại Khu học xá Trung ương Nam Ninh (Trung Quốc).

Năm 1957, sau chuyến công tác, dự lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga, Bác Hồ đã đến thăm cán bộ và học sinh Việt Nam tại Nam Ninh. Hôm ấy, hàng ngàn học sinh reo vang xúc động khi thấy Bác xuất hiện giữa quảng trường lớn.

Trong buổi nói chuyện thân tình, Bác căn dặn các em phải chăm chỉ học hành, biết tiết kiệm, quý trọng của công, giữ gìn từng tờ giấy, manh áo vì “nước ta còn nghèo, nhân dân ta còn khó khăn gian khổ”. Những lời dạy giản dị ấy trở thành bài học theo ông Trần Cao Đề suốt cuộc đời công tác.

Tình thương của Bác theo suốt một đời

Nếu ký ức của những học sinh miền Nam là sự ân cần của người cha, thì với những chiến sĩ "tàu không số", đó là sự sẻ chia đầy thấu cảm của vị lãnh tụ luôn đau đáu hướng về miền Nam ruột thịt.

Năm nay đã ngoài 90 tuổi, ông Huỳnh Văn Tiến (sinh năm 1937, quê Bến Tre - nay là tỉnh Vĩnh Long, ngụ phường Phước Thắng, TPHCM) nay không còn nghe rõ như trước bởi di chứng vết thương do bom nổ từ trận Vũng Rô năm 1965. Đó là những ngày chiến đấu ác liệt từ 16 đến 24-2-1965, khi tàu C-143 của Lữ đoàn 125 Hải quân Nhân dân Việt Nam đang bốc dỡ vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam thì bị máy bay Mỹ phát hiện, đánh phá dữ dội.

Thế nhưng, mỗi lần nhắc đến lần vinh dự được gặp Bác Hồ, người cựu chiến sĩ tàu không số ấy vẫn xúc động như vừa mới hôm qua. Ánh mắt ông ánh lên niềm tự hào, giọng nói chậm nhưng đầy tình cảm khi nhớ về dáng hình giản dị, lời hỏi han ân cần và tình thương ấm áp mà Bác dành cho những người chiến sĩ miền Nam năm ấy.

Ông Huỳnh Văn Tiến kể: đó là vào tháng 8-1961, sau hành trình vượt biển từ Bến Tre ra Bắc, ông cùng đồng đội được gặp Bác tại Phủ Chủ tịch. Trong bộ đồ kaki cũ bạc màu, Bác ân cần hỏi thăm việc vượt biển có mệt không, phong trào đấu tranh của đồng bào miền Nam thế nào, trẻ em vùng giải phóng có trường lớp đi học không.

Khoảnh khắc xúc động nhất là khi Bác hỏi: “Các chú ra đây có đề nghị gì với Trung ương, với Bác không?”. Các chiến sĩ thưa: “Chúng cháu ra đây xin Bác, Trung ương cho mỗi tỉnh một thuyền vũ khí… loại vũ khí gì mà đánh sập lô cốt bằng bê tông cốt thép của giặc”. Nghe đến đó, Bác lặng người rồi lấy khăn mùi soa lau nước mắt. Giọt nước mắt của vị Chủ tịch nước trước những gian khổ của đồng bào miền Nam đã trở thành động lực thôi thúc các chiến sĩ sẵn sàng chiến đấu bất cứ khi nào Tổ quốc cần.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, những câu chuyện của ông Nguyễn Tuấn Dũng, ông Trần Cao Đề hay ông Huỳnh Văn Tiến không chỉ là ký ức riêng của một thế hệ. Đó còn là những lát cắt chân thực, cảm động về tình yêu thương bao la của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho đồng bào miền Nam ruột thịt. Và cũng từ tình thương ấy, nhiều thế hệ cha anh đã trưởng thành, cống hiến cho đất nước như một cách để suốt đời ghi nhớ và làm theo lời Bác.

Tin cùng chuyên mục