Anh Hai Văn lớn hơn tôi gần hai con giáp. Xét về tuổi đời, đối với tôi anh thuộc vào hàng cha, chú. Là một trong những nhà lãnh đạo hàng đầu của Trung ương Cục miền Nam suốt trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, nhưng anh sống chan hòa với cán bộ, đảng viên nên rất dễ gần, dễ mến. Ở anh, trong mối quan hệ giao tiếp với mọi người, không hề có sự phân biệt đối xử về tuổi tác, chức vụ và quá trình công tác. Ngay từ những tháng năm sống ở “R” tại chiến khu Bắc Tây Ninh, lớp trẻ chúng tôi vẫn thân mật gọi anh là “anh Hai” - “chú Hai”.
Điều đã để lại ấn tượng đẹp trong ký ức tôi, là một đồng chí Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam trực tiếp phụ trách lĩnh vực công tác trọng yếu của Đảng - công tác tổ chức cán bộ, song anh Hai không phải là con người sống gò bó, khô khan. Có lẽ, do đã từng gắn bó máu thịt với đồng bào, nên cách giao tiếp của anh thật bình dân, giản dị. Những đức tính đáng quý này cộng với gương mặt thông minh tuấn tú và nụ cười đôn hậu của anh, đã khiến cho anh tạo được sức hút đối với anh em, đồng chí, bạn bè.
Đồng chí Phan Văn Đáng ngồi làm việc tại căn cứ Trung ương Cục ở chiến khu Bắc Tây Ninh. (Trên bàn có quả bưởi và quả dừa trồng trong vườn của Bác Hồ do Trung ương gửi tặng).
Lúc giảng bài trong các lớp học hoặc báo cáo, thuyết trình ở những nơi hội họp, anh thường có lối diễn đạt hấp dẫn - lúc thì dịu dàng êm ái như đang tâm sự với người thân, khi thì phát biểu sôi nổi hùng hồn như thôi thúc người nghe xông lên phía trước.
Lắm lúc, anh còn chêm vào những câu chuyện có tính chất khôi hài, nhằm đem lại cho thính giả những phút giây thư giãn. Thêm một điều đáng để cho chúng tôi học tập ở anh, tuy là một cán bộ lãnh đạo, nhưng không khi nào anh dùng lời lẽ “dao to búa lớn” đối với cấp dưới hoặc người đang đối thoại với mình.
Cho dù gần 40 năm đã trôi qua, nhưng giờ đây hồi tưởng lại những lần nghe anh Hai nói chuyện giữa rừng, tôi thấy vẫn còn thích thú. Vì nắm vững đường lối quần chúng và thấu suốt quan điểm của Đảng về công tác dân vận, lại theo dõi sát sao và kịp thời nắm bắt thực tiễn hoạt động ở các chiến trường, nên trong nhiều cuộc họp anh đã tổng kết được những bài học kinh nghiệm sống động có giá trị cả về lý luận và thực tiễn nhằm định hướng đúng đắn để tổ chức thực hiện những nhiệm vụ chính trị và quân sự cấp bách của Đảng ở miền Nam trong thời điểm ấy - như: vấn đề phát động quần chúng tại chỗ nổi dậy trong vùng kìm kẹp, vùng ấp chiến lược, vùng tôn giáo, vùng đồng bào Công giáo miền Bắc di cư, phá thế kìm kẹp, phá ấp chiến lược, chuyển ấp, chuyển vùng, đòi địch phải giải quyết quyền lợi dân sinh, dân chủ, v.v...
Điều khiến cho cánh thanh niên chúng tôi hồi đó cảm thấy thực sự “tâm phục khẩu phục” là được tiếp thu sự huấn thị của anh Hai qua những lần làm việc với Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng và nghe anh phát biểu ý kiến chỉ đạo tại Đại hội Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng lần thứ II vào đầu mùa xuân năm 1973, khi Hiệp định Paris về việc “chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” vừa được ký kết.
Anh đã “gãi đúng chỗ ngứa” của chúng tôi lúc bấy giờ, là khao khát muốn được nghe sự phân tích thấu đáo về vấn đề thời sự nóng bỏng xung quanh âm mưu của địch và những chủ trương của Đảng ta sau khi ký Hiệp định Paris.
Dưới ánh sáng nghị quyết Bộ Chính trị và chỉ thị của Trung ương Cục miền Nam, anh đã lý giải bằng những luận chứng rất thuyết phục. Anh nói: mặc dù tình thế chung buộc kẻ thù phải ký Hiệp định Paris, nhưng chúng vẫn nuôi hy vọng giành thắng lợi với chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Vì vậy, không thể có sự nhận thức mơ hồ và ảo tưởng về việc địch sẽ thi hành hiệp định một cách nghiêm chỉnh. Bất kể trong tình huống nào, lực lượng chính trị và vũ trang ta phải mạnh và luôn luôn sẵn sàng chiến đấu. Nếu địch gây hấn trở lại, nhất định chúng phải bị giáng trả thích đáng.
Những lập luận có cơ sở khoa học đó của anh, được thực tiễn trên chiến trường xác minh, làm cho chúng tôi càng thêm thấm thía. Rõ ràng, sau Hiệp định Paris, địch bung ra hết sức quyết liệt khắp các vùng - nhất là ở vùng nông thôn, chúng đã gây cho phong trào cách mạng nhiều khó khăn, tổn thất. Nhưng nhờ có sự chỉ đạo của Trung ương Cục, sự chủ động của các địa phương nên chúng ta đã ngăn chặn được và tiến lên giành thắng lợi quyết định vào ngày 30-4-1975.
Thế rồi năm tháng qua đi. Sau ngày miền Nam giải phóng, trong thời gian tôi làm Bí thư Tỉnh ủy Sông Bé, anh Hai có xuống địa phương để thăm anh em chúng tôi mấy lần. Quen cách sống dân dã, luôn hòa nhập với cán bộ, chiến sĩ và đồng bào trong thời kỳ cách mạng dân tộc - dân chủ, lần nào cũng vậy, khi lên Sông Bé, anh đến tận nhà để thăm tôi, hỏi han mọi mặt sinh hoạt và thân tình căn dặn vợ tôi điều này điều nọ.
Với tình cảm thân thương như cha con, chú cháu và anh em trong gia đình, khiến cho chúng tôi càng thêm quý mến anh bội phần. Vì biết anh Hai là người thích sống cởi mở và giao tiếp, nên mỗi khi lên vùng đất Thủ (Thủ Dầu Một), tôi đều tổ chức cho anh có dịp được gặp mặt một số đồng chí cán bộ lão thành chí cốt để cùng nhau hàn huyên tâm sự, bàn những chuyện “ôn cố tri ân”. Những lần gặp gỡ đó anh Hai rất vui và để lại nhiều kỷ niệm đẹp không bao giờ quên được.
Ở Sông Bé, lâu lâu thấy nhớ, tôi tranh thủ thời gian lên thành phố Hồ Chí Minh để thăm anh Hai. Mỗi lần gặp anh, ngoài việc giải quyết nhu cầu về tình cảm, tôi còn học hỏi ở anh nhiều điều bổ ích qua những lời tâm sự, nhắc nhở, dặn dò. Những năm cuối đời, thể lực anh bị suy kiệt do tuổi tác ngày càng cao. Dẫu vậy, ở anh không hề bị phôi pha mất mát chất trẻ trung tươi tắn trong tâm hồn. Lắm khi gặp chúng tôi, anh thường hay kể cho nghe những chuyện giễu cợt, bông đùa như để tìm những niềm vui trước áp lực nặng nề của bệnh tật và vừa để khuyên mình, răn người.
Là một “bạch đầu quân” suốt đời nặng nợ nghĩa tình với đồng bào và đồng đội, nên trong cuộc sống tình cảm của anh Hai không có chỗ trống để cho cho sự thiếu vắng anh em, đồng chí, bạn bè. Một sự việc khiến tôi không bao giờ quên được, đó là lần tôi gọi điện thoại để thăm anh và báo trước cho anh biết là chúng tôi sẽ kéo tới thăm anh. Lúc bọn tôi đến nhà, anh Hai đã biểu lộ sự vui mừng khó tả.
Anh thân tình nói với anh em chúng tôi: “Lúc nãy, khi tụi bây gọi, tao phải ráng bò tới chiếc điện thoại để nghe, còn bây giờ thì tao thách tụi bây chạy lại tao!”. Một câu nói thật là hồn nhiên dân dã, nhưng nghe sao mà quá đỗi thân thương.
Với 78 tuổi đời, gần 60 năm tuổi Đảng, đi suốt cuộc trường chinh vạn dặm từ những ngày máu lửa của cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa đến lúc kết thúc vẻ vang hai cuộc kháng chiến thần thánh chống Pháp - Mỹ, 5 năm bị đày đi lưu xứ và biệt giam tại chốn địa ngục trần gian ở nhà tù Côn Đảo, anh Hai Văn thật xứng đáng là một chiến sĩ mác xít kiên cường trên mảnh đất quê hương “Thành đồng Tổ quốc”, xứng đáng là con người trung hiếu mẫu mực của nhân dân.
Sau ngày Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và từ khi mở đầu cuộc kháng chiến chống Pháp trên chiến trường Nam bộ, được trưởng thành trong những cương vị và chức vụ công tác: Chỉ đạo quận Tam Bình, Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh tỉnh Vĩnh Long, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long, Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Nam bộ, Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Phó ban Đại diện Đảng và Chính phủ tại miền Nam, Phó Chủ tịch Quốc hội... và hơn 20 năm ở trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta, anh Hai Văn luôn luôn hoàn thành xuất sắc những lời giáo huấn của Bác Hồ kính yêu: “Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.
Là một người suốt đời hy sinh xả thân chiến đấu không hề mệt mỏi cho sự nghiệp cách mạng thiêng liêng của Đảng và dân tộc, cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, anh Hai Văn mới chịu buông vũ khí tư tưởng. Chúng ta đều biết, vốn không phải là một người quen với nghề nghiệp viết lách, thế mà trong hơn 10 năm, thời gian anh được nghỉ, nhưng anh không nghỉ, anh đã chống chọi quyết liệt với ốm đau bệnh tật, sử dụng báo chí làm phương tiện chuyển tải tư tưởng và tình cảm thiết tha của mình đến đồng chí và đồng bào.
Không ai có thể ngờ rằng, từ năm 1985 đến năm cuối đời - 1997, anh Hai Văn đã hoàn thành tới 43 bài viết, trong đó có 27 bài được anh chọn lọc để đăng lên mặt báo.
Giờ đây nhớ tới anh, ngồi đọc lại nội dung những bài viết ấy, chúng ta càng thêm quý trọng anh. Trong khối lượng bài viết phong phú này, anh đã dành một vị trí trang trọng để tổng kết những bài học kinh nghiệm xương máu của nhân dân Nam bộ qua 30 năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ trên mảnh đất quê hương “Thành đồng Tổ quốc”. Là một nhà tổ chức từng trải và dày dặn kinh nghiệm hoạt động, anh đã dồn tâm lực của mình vào việc đào sâu nghiên cứu một chuyên đề trọng yếu và bức xúc - là công tác xây dựng Đảng gắn liền với tiến trình đổi mới đất nước.
Có một hiện tượng lạ là, trong 2 năm cuối đời, trong khi sức khỏe của anh ngày càng sa sút thì số lượng bài viết của anh chẳng những không bị giảm, mà lại gia tăng. Có phải chăng, do cảm nhận được một điều gì đó sẽ đến với mình, nên anh đã triệt để huy động sức mạnh nội lực, cố vươn lên hàng đầu trận địa tư tưởng để cống hiến, trước khi vĩnh biệt cuộc đời này.
Trong số 7 bài viết cuối cùng, có một bài làm cho tôi khi đọc không khỏi bồi hồi - là bài “Chủ nghĩa xã hội và vai trò của Đảng Cộng sản là sự lựa chọn của lịch sử”, đã được đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng vào tháng 5 năm 1996. Tôi nghĩ, đó chính là con đường mà anh đã chọn lựa từ mùa thu năm 1939, khi đứng trong đội ngũ chính đảng tiên phong của giai cấp công nhân. Đó cũng là những lời tâm huyết mà anh mãi mãi để lại cho đời.
NGUYỄN MINH TRIẾT
(Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy TPHCM)