Sự cần thiết của một “bản đồ nguồn lực tổng thể”

Cuối tuần qua, thảo luận tại tổ Đại biểu Quốc hội về phát triển kinh tế - xã hội, Thủ tướng Lê Minh Hưng nêu rõ, trong giai đoạn tới, áp lực nguồn vốn sẽ rất lớn khi tổng mức đầu tư toàn xã hội đến năm 2030 cần đạt 40% GDP, tương ứng 38,5 triệu tỷ đồng, trong đó đầu tư công chỉ đóng góp 20% (hơn 8 triệu tỷ đồng) và 80% còn lại phải huy động từ doanh nghiệp trong nước, FDI.

Vì vậy, người đứng đầu Chính phủ cho rằng sẽ phải tạo lập hành lang pháp lý minh bạch, rõ ràng để huy động được các nguồn lực này. Thủ tướng còn nhấn mạnh, nguồn lực rất lớn đang tồn đọng ở hàng ngàn dự án. Nếu được khơi thông trở lại, nó chính là nguồn lực khổng lồ góp phần cho tăng trưởng.

Đặt trong bối cảnh bị tác động bởi cuộc xung đột Trung Đông và hệ quả là khủng hoảng năng lượng toàn cầu, mức độ “phơi nhiễm, dễ bị tổn thương và không gian chính sách” của từng quốc gia, trong đó có Việt Nam, lại càng khiến tốc độ tăng trưởng bị suy giảm (Ngân hàng Thế giới vừa đưa dự báo Việt Nam sẽ chịu mức sụt giảm lớn nhất vào năm 2026, với tốc độ tăng trưởng được dự báo chậm lại còn 6,3%, giảm từ mức hơn 8% của năm ngoái). Thách thức huy động nguồn lực quy mô lớn càng cao.

Chính phủ mới đã sớm nhận diện vấn đề này nên trong báo cáo có đưa ra nhiều giải pháp như tăng đầu tư công lên 40% tổng chi ngân sách nhà nước, phát hành trái phiếu, thu hút FDI chọn lọc, phát triển thị trường vốn, sớm đưa Trung tâm Tài chính quốc tế vào hoạt động... Tuy nhiên, vấn đề quan trọng ở chỗ, trong từng giải pháp - tức mỗi kênh huy động vốn đều chứa đựng những rủi ro nhất định, bài học kinh nghiệm từ thực tiễn vẫn là tính khả thi chưa cao do năng lực thực thi còn yếu.

Do đó, ở cấp độ quốc gia, với vai trò “tổng công trình sư”, việc xây dựng một "Bản đồ nguồn lực tổng thể" cho giai đoạn 2026-2030 là rất cần thiết đối với chính phủ. Trong đó xác định rõ: tổng nhu cầu vốn cho từng nhóm dự án chiến lược; tỷ trọng dự kiến từ từng kênh (ngân sách, trái phiếu, tín dụng, FDI, PPP, vốn gián tiếp); các điều kiện pháp lý và thể chế cần hoàn thiện theo từng kênh; và cơ chế giám sát, điều phối giữa các kênh để tránh chồng lấn rủi ro.

Thực tế, xét từ nội lực quốc gia, khả năng huy động và “vốn liếng” thực của chúng ta không lo thiếu; chỉ sợ nguồn vốn không hấp thụ được, tràn vào các dự án kém hiệu quả, hoặc phụ thuộc duy nhất vào một kênh, dễ dẫn tới lạm phát. Thiết lập bản đồ nguồn lực này là cách gửi tín hiệu rõ ràng đến thị trường và nhà đầu tư quốc tế về quyết tâm và năng lực thực thi của Việt Nam.

Đơn cử, về vốn đầu tư công, thực tiễn những năm qua cho thấy tỷ lệ giải ngân luôn là điểm nghẽn. Đã có nhiều biện pháp cứng lẫn mềm được đưa ra nhưng vẫn chưa hiệu quả. Cơ chế phân bổ vốn "theo kết quả đầu ra" và gắn với hạch toán kinh tế - xã hội cải thiện như thế nào? Cơ chế xử lý trách nhiệm khi không đạt tiến độ sẽ được áp dụng ra sao? Đây không phải là những câu hỏi mang tính hình thức, khi khả năng thực thi chính là điểm khác biệt giữa kế hoạch trên giấy và kết quả trong thực tiễn. Hay về hợp tác công - tư (PPP), nên được xem như một kênh nguồn lực chiến lược chứ không phải là kênh phụ trợ, nhất là với các công trình hạ tầng lớn như đường sắt tốc độ cao, cảng biển, sân bay…

Thực tiễn triển khai PPP còn nhiều vướng mắc về chia sẻ rủi ro, bảo lãnh doanh thu và thoái vốn nhà nước. Do đó, ngay trong năm 2026, chúng ta nên hoàn thiện khung pháp lý PPP theo hướng có cơ chế chia sẻ rủi ro doanh thu rõ ràng, có thể áp dụng cho nhiều loại hình dự án bên cạnh việc bảo lãnh Chính phủ có chọn lọc, kiểm soát nghĩa vụ nợ tiềm tàng. Cùng với đó là cơ chế thoái vốn minh bạch để thu hút nhà đầu tư tổ chức dài hạn.

Đặc biệt, để huy động được vốn tín dụng ngân hàng và trái phiếu hay thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp cùng với khả năng vận hành của Trung tâm Tài chính quốc tế, nên sớm hoàn thành Đề án hiện đại hóa ngân hàng và xử lý tổ chức tín dụng yếu kém - là điều kiện tiên quyết để kênh tín dụng hoạt động hiệu quả. Đồng thời hoàn thành Đề án cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam - nền tảng để đảm bảo hệ thống pháp luật minh bạch, bảo vệ nhà đầu tư, cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế và chất lượng quản trị doanh nghiệp. Mục tiêu tăng trưởng 2 con số và khát vọng đưa Việt Nam vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 là hoàn toàn có thể đạt được, chỉ khi chúng ta giữ vững kỷ luật kinh tế vĩ mô và huy động nguồn lực một cách thông minh, đa dạng và có kiểm soát rủi ro như Thủ tướng đã ra đề bài.

Tin cùng chuyên mục