Theo dự báo của Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam, sang tháng 4-2009, giá thức ăn chăn nuôi trong nước có thể sẽ có biến động do khoảng hơn 1 tháng qua, giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi của thế giới tăng trở lại. Trao đổi với SGGP 12 Giờ, ông Lê Bá Lịch (ảnh) - Chủ tịch Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam - cho biết:
(SGGP-12G).- Hiện nay, tính theo giá trị thì mỗi năm, giá trị nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu chiếm tới 49%-52% tổng giá trị nguyên liệu mà các doanh nghiệp đưa vào chế biến thức ăn chăn nuôi.
- Hiện nay chúng ta đang phải nhập những loại nguyên liệu nào, thưa ông?
- Chúng ta đang phải nhập khẩu khoảng 22 loại nguyên liệu, gần như là 100% loại nguyên liệu dùng để sản xuất thức ăn hỗn hợp. Trong đó, khô dầu đậu tương chúng ta phải nhập 100% (mỗi năm nhập khoảng 2-2,5 triệu tấn). Hiện nay nước ta chỉ có khoảng 300.000ha trồng đậu tương, năng suất chỉ đạt 1,2-1,4 tấn/ha nên tính ra, mỗi năm chúng ta chỉ có khoảng hơn 300.000-350.000 tấn đậu tương - chỉ đủ làm đậu phụ và làm nước uống giải khát.
Tuy nhiên, chúng ta lại có lợi thế trồng ngô vì diện tích vẫn còn nhiều, tập trung chủ yếu ở khu vực trung du, miền núi nên không làm ảnh hưởng đến diện tích lúa. Song hiện cả nước mới có khoảng 1 triệu héc-ta ngô và năng suất ngô cũng không bằng các nước, chỉ 3,7-4,2 tấn/ha (trong khi năng suất ngô của Mỹ đã lên tới 9-12 tấn/ha), tính ra mỗi năm cả nước cũng chỉ làm ra khoảng 4 triệu tấn ngô. Bởi vậy, mỗi năm các doanh nghiệp đang phải nhập thêm 500.000-1 triệu tấn ngô. Chúng ta cũng có nhiều sắn nhưng sắn dùng làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi chỉ chiếm có khoảng 15%-20% vì độ đạm ít, còn lại chủ yếu dùng để phục vụ các nhà máy sản xuất mì chính và xuất khẩu sắn lát sang Trung Quốc.
Còn về các nguyên liệu khác như bột cá, mặc dù chúng ta có bờ biển dài hơn 3.200km nhưng chưa có nhiều loại bột cá đạt tỷ lệ đạm trên 60% và hệ thống thu gom cũng khó khăn, chưa hình thành rõ rệt vùng nguyên liệu dùng làm thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản. Do đó, hằng năm chúng ta vẫn phải nhập bột cá của Peru. Ngay cả các loại nguyên liệu bổ sung như lyzin, methionime, triptophan, DCP, khoáng… chỉ chiếm khoảng 1% tổng lượng nguyên liệu đưa vào làm thức ăn chăn nuôi chúng ta cũng phải nhập khẩu.
Bốc xếp thức ăn chăn nuôi nhập khẩu. Ảnh: VĂN PHÚC
- Doanh nghiệp thì “đói” nguyên liệu như vậy nhưng tại sao các loại nông sản của nông dân làm ra vẫn không bán được, giá quá rẻ?
- Nguyên nhân là vì chất lượng nguyên liệu trong nước không đảm bảo nên doanh nghiệp không dám thu mua nhiều. Chất lượng ở đây không phải là giá trị dinh dưỡng mà là do khâu thu hoạch và bảo quản của chúng ta kém, nông dân không có hệ thống kho bãi, sân phơi sấy. Ngô của Việt Nam có chất lượng dinh dưỡng cao hơn nhiều ngô của Mỹ, độ vàng hơn nhưng do cách thu hoạch và bảo quản kém, lại có đặc điểm là thu hoạch vào mùa mưa nên độ ẩm cao, ngô dễ bị mốc, không thể sử dụng làm thức ăn chăn nuôi được.
- Vậy theo ông, phải làm sao để khắc phục sự quá phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu ngoại nhập?
- Đây là trách nhiệm của Bộ NN-PTNT trong việc quy hoạch vùng nguyên liệu, định hướng đầu tư, thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, thậm chí có thể đưa vào hạng mục ưu tiên đầu tư cũng như đảm bảo một hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ để phục vụ sản xuất nông sản.
Thậm chí có thể định hướng giúp nông dân chuyển bớt diện tích trồng sắn sang trồng ngô. Hiện nay, đậu tương thì chắc chắn là phải nhập ngoại song ngô và bột cá thì chúng ta có thể chủ động được. Ngô có thể đưa năng suất lên nữa nhưng phải đầu tư thủy lợi. Những nơi có thể quy hoạch trồng ngô là Sơn La, Nghệ An, Đắc Lắc, Đồng Nai…
- Cảm ơn ông!.
Việt Nam là nước nông nghiệp nhưng lại có tới 70% nguyên liệu dùng để sản xuất thức ăn chăn nuôi phải nhập khẩu. Hệ quả, mỗi khi thị trường nguyên liệu thức ăn chăn nuôi thế giới tăng cao thì giá các loại thức ăn chăn nuôi trong nước cũng tăng theo, thiệt hại cuối cùng vẫn chính là nông dân. Ngược lại, nhiều loại nông sản được trồng để làm thức ăn chăn nuôi như sắn, ngô… thì không thể tiêu thụ được, giá quá rẻ.
VĂN PHÚC HẬU