Trở lại đền Lê

Trở lại đền Lê

Vừa qua, có dịp ra Hà Nội, tôi dành một ngày trở lại đền thờ hai vua Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn ở Hoa Lư (Ninh Bình), theo tua du lịch thu hút rất nhiều khách Tây, ngày nào cũng có.

Ngồi cùng băng ghế với tôi trên xe là một cặp vợ chồng Tây ở đảo Corse. Tôi giơ ngón tay cái thốt lên: Napoléon! (Na-pô-lê-ông là dân đảo Corse). Họ hỏi tôi học tiếng Pháp ở đâu, tôi bảo học ở Sài Gòn và các giáo sư người Pháp của tôi đã dạy tôi rằng “tổ tiên tôi là người Gô-loa”! Họ cười ầm. (Sách lịch sử của Pháp mang sang dạy dân bản xứ, họ cứ để y xì như vậy bắt học trò học).

Một cô khách người Singapore khá xinh ngồi băng ghế sau hỏi tôi: Việt Nam có quả gì màu đỏ tươi rất đẹp bày bán ở chợ, có ăn được không? Tôi đoán mò và hỏi: có phải quả thanh long (dragon fruit), cô bảo không phải, cô biết quả thanh long, còn quả này thì... Bỗng cô à lên một tiếng, rút máy ảnh, bấm hình cho tôi xem. Ôi trời, đó là quả gấc! Cô chụp nó đẹp quá. Tôi không biết quả gấc tiếng Pháp, tiếng Anh là gì (chẳng biết bên Tây có quả này không, hay nó chỉ có tên khoa học).

Nhân thể, tôi quảng cáo đó là một quả rất “nên thuốc”, Việt Nam đã sản xuất thuốc dầu gấc dưới dạng viên nang, còn dân gian thì dùng đồ xôi, nếu bạn thấy một hàng xôi có màu đỏ tươi thì nó được chế tác từ quả gấc này và bạn cũng có thể mua một ít nếm thử để hiểu câu thành ngữ Việt Nam “ăn mày còn đòi xôi gấc”!...

Xe đi vào khu vực đền Đinh – Lê. Cũng đã ngót 40 năm, tôi mới trở lại đây. Quang cảnh thay đổi quá nhiều. Nếu trước đây đền còn cây to bóng mát vây quanh làm nên không khí trầm mặc uy nghiêm thì nay, một công trường đang mở ra, máy xúc gầm gừ xịt khói, đất đá ngổn ngang, bụi bay khắp chốn... Đành rằng nhu cầu tham quan du lịch đang phát triển vượt bậc nhưng tiền của lại đang đổ vào bãi xe, đường sá, hàng quán... Còn cái “nhân bánh”, tức hai đền vua, vì có chúng mới có sự tấp nập hôm nay, thì...

Tôi lặng lẽ theo chân người hướng dẫn cùng nhóm du khách vào đền Đinh. Không còn dáng vẻ của lối kiến trúc “nội công ngoại quốc” (trong chữ công ngoài chữ quốc) khi xưa, cũng không còn những viên gạch cổ sót lại của ngàn năm trước có in chữ “Đại Việt quốc quân thành chuyên” (gạch xây thành của quân nước Đại Việt), mà “ông từ giữ đền” lúc đó, một cụ già trí thức khá uyên thâm mang ra cho tôi xem và giảng giải cho tôi nghe...

Tôi tự hỏi: Những viên gạch quý vô giá đó đi đâu mất rồi? May sao, khi vào thăm Bảo tàng tỉnh Ninh Bình, tôi thấy đang trưng bày mấy viên gạch vỡ nhưng vẫn còn đọc được chữ in trên đất nung Đại Việt quốc quân thành chuyên...

Cũng không còn nguyên hai câu đối tạc trên hai cột trước sân rồng: một câu vôi vữa lở lói, còn câu kia đã mất hẳn chỉ còn lại một chữ cuối cùng, cũng cụ già giữ đền lúc đó đọc cho tôi nghe. Câu đối hay quá nên tôi thuộc nằm lòng cho đến hôm nay:
Đặc địa bách sơn khai, vọng vọng tiền lâm Long thủy khoát
Sanh thiên song trụ lập, tằng tằng nan đối Mã sơn cao
(Đất đặc biệt trăm núi mở ra, ngóng về sông Hoàng Long khoáng đãng phía trước rừng
Vòm trời hai trụ đứng, tầng tầng khôn sánh Mã sơn cao)

Bây giờ, câu trước đã tróc lở nham nhở, và câu sau chỉ còn lại mỗi một chữ cao. Thật ngậm ngùi và chẳng biết nói sao khi tiền của không được đổ vào đúng chỗ. Mà nào có khó khăn, tốn kém gì cho cam. Công và của để tô đắp lại hai câu đối mất bao nhiêu xi-măng, vôi vữa, so với hàng ngàn tấn xi-măng xây cất bãi xe, nhà hàng...? Nếu không phục chế lại ngay thì chỉ dăm năm nữa thôi, cái hồn của khu sân rồng và cả khu di tích nữa sẽ bị “giết chết” vĩnh viễn!

Khi tôi hỏi cô Singapore có đọc được chữ Hán, cô gật đầu. Tôi đọc hai câu đối mất chữ nọ theo âm Hán – Việt. Cô ồ lên, nắm tay tôi, kéo đến chính điện chỉ vào ba chữ đại tự: CHÍNH THỐNG THỦY. Cô đọc ba chữ đó theo âm Bắc Kinh vào máy rồi bảo tôi đọc theo âm Hán – Việt cho cô ghi lại. Ba chữ hàm súc quá, cô chưa rõ nghĩa và hỏi tôi. Tôi đáp: Theo tôi hiểu thì ba chữ đó nghĩa là “nguồn chính thống”. Cô lại hỏi: nguồn chính thống gì? Tôi đáp: Nguồn chính thống độc lập, tự chủ... Độc lập của Việt Nam khởi nguồn từ đây sau ngàn năm Bắc thuộc... Cô suy nghĩ đăm chiêu và không hỏi thêm gì nữa... 

Tôi cũng lặng lẽ nghĩ tới hai câu đối của một sứ giả đời Tống viết về Hoa Lư và nước Đại Cồ Việt:
Cồ Việt quốc đương Tống Khai Bảo
Hoa Lư đô thị Hán Tràng An
(Nước Cồ Việt sánh với thời Khai Bảo nhà Tống
Kinh đô Hoa Lư là Tràng An đời Hán)

Chẳng biết vị sứ giả này có thực lòng khen ngợi không, nhưng cứ nghĩ đến cháu con chỉ lo khai thác cha ông để kiếm tiền mà không đoái hoài gì đến “nguồn chính thống độc lập” ở hai đền vua tại Hoa Lư mà ngậm ngùi nuối tiếc...

Ở đền Lê cũng vậy. Sự xuống cấp của di sản cổ nhìn thật thương. Và sự xâm lấn của lối sống chụp giật làm con dân nước Việt xót xa và du khách quốc tế ngượng ngùng... Khi chúng tôi hăm hở bước vào cổng đền thì chạm trán ngay mấy người ở gian bên trái đang bày một bàn tiệc với những cốc bia rượu và những đĩa “mồi”... chờ thực khách... Chúng tôi (cả nhóm du khách Tây) phải vội vàng rẽ sang lối khác...

Có một hình ảnh tội nghiệp: một cậu bé con nhà nông lam lũ chăn một con trâu trên bãi trống trơ trụi trước đền với mớ hoa lau cầm tay. Chắc cậu đợi du khách nổi hứng muốn chụp hình với ông Vua thời ấu thơ cờ lau tập trận theo lời giới thiệu của các hướng dẫn viên để kiếm dăm mười đồng...

Trong khi đó, khách đi tua được đưa vào một nhà hàng chọn sẵn để ăn bữa trưa “búp-phê” (tự phục vụ), tiền ăn đã tính trong vé tua, nhưng tiền thức uống du khách tự trả nên nhà hàng tha hồ chặt chém với giá cao gấp đôi... Một cô gái người Việt thấy chướng mắt, hỏi một câu thì những người phục vụ bảo, họ chỉ biết thu tiền, còn giá cả do chủ nhà hàng qui định... Cô gái chỉ còn biết lắc đầu trước sự biến tướng của lối “cơm tù” dành cho khách quốc tế!...

Cuộc đi thuyền thăm Tam Cốc làm cho du khách cảm thấy mát mẻ, bớt căng thẳng khi ngắm nhìn núi non trùng điệp như đi thăm “Hạ Long trên cạn” xuyên qua ba cái hang núi trùm lên mặt sông. Hang tối mờ mờ, có chỗ thạch nhũ sà sát đầu, có hang tối om chẳng nhìn rõ mặt người ngồi bên cạnh... Chỉ cảm nhận được cái mát lạnh của hơi nước phả ra, từ núi, từ sông...

Thu Nguyệt nhắn tin cho tôi: “Chú còn ở Ninh Bình thì nên đi Trường An, đẹp gấp mười lần Tam Cốc...” Nhưng tôi đi tua nên chiều hôm đó phải quay về Hà Nội...

Trên đường về, bà đầm Pháp ngồi cạnh hỏi tôi vẻ ái ngại: Những người đàn bà chèo xuồng cho ta được trả công bao nhiêu? – Bốn mươi ngàn đồng một lượt vào ra... Mỗi tháng được chèo vài bốn lượt, theo lời họ kể... Bà trầm ngâm, lại hỏi: Công thợ mỗi tháng bao nhiêu? – Từ triệu rưởi đến hai triệu... Bà nhẩm tính rồi lắc đầu, không hỏi thêm gì nữa...

TRẦN THANH GIAO

Tin cùng chuyên mục