Những ngày cuối năm âm lịch, Sài Gòn bỗng hứng một cơn áp thấp nhiệt đới, khiến tôi xao xác nhớ miền Trung xa xôi. Miền Trung khốn khó không năm nào không gánh chịu thiên tai, đến mức một người bạn tôi viết câu thơ như một lời thảng thốt: “Gió bão thù chi với mảnh đất này”. Tôi xa miền Trung đã nhiều năm, nhưng nỗi nhọc nhằn miền Trung vẫn nằm sâu trong huyết quản tôi, để mỗi tiếng gọi bất chợt đi qua niềm nhớ cũng rung thành những hồi chuông trống vắng trái tim mình!
Tháng Chạp, bạn bè gặp nhau bồn chồn hỏi: “Bao giờ về miền Trung?” rồi mỗi người tự giấu đi chút ngậm ngùi: “Không biết tết nhất sẽ ra sao!”. Quả thật, sau trận bão lụt tang thương vừa rồi, không biết mùa xuân có kịp mang lại chút yên ấm cho mỗi mái nhà không? Người miền Trung đã quen chịu đựng rồi, nắng đổ lửa hay rét thấu xương cũng không thể quật ngã được sức sống của họ.
Thế nhưng, dẫu lạc quan chừng nào, miền Trung nhiều khi cũng không còn khả năng chống đỡ sự thịnh nộ của thiên nhiên. Nhà tốc mái có thể lợp lại, vườn tược tan hoang có thể vun trồng lại, nhưng con người thiệt mạng lấy gì bù đắp?
Tôi đã gặp trên triền sông vắng những người đàn bà đầu chít khăn tang trắng và mang khuôn mặt u buồn bước thật chậm, thật lặng lẽ như những cái bóng vô hồn. Những người đàn bà bất hạnh mộng du trong chính sự hiu hắt của họ để cố an ủi mình rằng những người chồng vẫn ở đâu đây, những đứa con vẫn ở đâu đây! Những người đàn bà không gánh vác nổi số phận nghiệt ngã đột ngột ụp xuống cuộc đời nhỏ bé của họ, khiến những bàn chân chai sần cứ lầm lũi mãi vào mùa đông bất tận.
Cứ nói về sự cơ cực của miền Trung thì nói đến khi nào mới hết? Tôi biết, nhưng tôi chẳng thể trả lời cho bản thân cái câu hỏi đơn sơ rằng, những người vừa thoát qua trận bão lụt kinh hoàng thì họ đón Tết Canh Dần như thế nào. Thì cũng khoai sắn nương nhau, thì cũng lá lành đùm lá rách. Biết làm sao được, những địa danh thân quen trong lòng tôi như Sông Cầu, Đồng Xuân, Tuy An, Đông Hòa… đều vừa trải qua những ngày xót xa nhất.
Tôi còn bao nhiêu lời hẹn ở miền Trung, có khi chỉ để nắm tay động viên qua cơn bĩ cực đến hồi thái lai, có khi chỉ để thắp một nén nhang lên bàn thờ người đã khuất rồi nhìn khói hương bay vòng như một lẽ thấm thía kiếp người mong manh.
Hầu như năm nào cũng vậy, khi công việc bộn bề của mười hai tháng tạm khép lại, tôi có thói quen ngồi một mình để nghĩ về miền Trung. Mảnh đất ấy có gì lưu luyến mà kẻ đi xa cứ hồi hộp mong tết để được náo nức cầm trên tay chiếc vé trở về? Tôi đã thắc mắc với nhiều người như vậy, và cũng đã thắc mắc với chính mình như vậy.
Chịu thôi, miền Trung lam lũ đã thành máu thịt rồi, chúng tôi hát một điệu bài chòi như hát cho niềm kiêu hãnh được sinh ra và lớn lên trong khắc nghiệt và bao dung. Miền Trung có khi hiện diện trong tôi chỉ là bóng dáng một tháp cổ rêu phong từng đêm trầm mặc. Miền Trung có khi hiện diện trong tôi chỉ là một con sóng cồn cào vỗ vào eo biển canh khuya. Miền Trung có khi hiện diện trong tôi chỉ là một cái bánh xèo bạn bè nhường nhau thuở bần hàn. Và vượt lên tất cả, miền Trung hiện diện trong tôi là tấm lưng tất tả của mẹ tôi những phiên chợ sớm. Vai áo lấm lem của mẹ, bàn tay cặm cụi của mẹ, mái tóc bạc dần của mẹ cứ chập chờn mỗi giấc mơ hối hả của tôi từng mùa hoài vọng cố hương.
Khi dòng người ở mọi ngõ phố Sài Gòn đổ ra bến xe, bến tàu để chạy ngược chặng đường xa cách tìm kiếm phút giây sum họp bên gia đình, thì tôi luôn mường tượng được ánh mắt khắc khoải của mẹ tôi ngóng ra cửa. Từ cánh cửa mòn nhẵn những vệt mồ hôi của mẹ, tôi đã ra đi trong cái nhìn bịn rịn và đôn hậu, và có lẽ mãi mãi tôi vẫn là đứa trẻ lúc trở về bên cánh cửa ấy.
Miền Trung không phải nghìn trùng, miền Trung nối hai đầu đất nước nhưng miền Trung vẫn thăm thẳm thương nhớ và phấp phỏng âu lo. Bão lụt tan rồi, nắng mới đến chưa? Miền Trung có thể thâm nghiêm Huế, miền Trung có thể rộn ràng Nha Trang, miền Trung có thể đồi cát Phan Rang, miền Trung có thể chậm rãi Hội An… nhưng chỉ cần vang lên hai tiếng “miền Trung” thì lòng tôi bỗng thấy trìu mến tình thân!
LÊ THIẾU NHƠN
Sài Gòn, 1-2010