Những ngày gần đây, trên nhiều diễn đàn và cả trên một số tờ báo điện tử đang nổ ra những cuộc tranh luận gay gắt về cái gọi là “Lễ hội hôn nhau”, dự kiến sẽ được tổ chức tại Hội An, vào đúng giờ khắc giao thừa bước qua ngày mùng 1 Tết (tức ngày 14-2-2010, ngày Lễ Tình yêu Valentine’s Day).
Thực ra, chuyện tổ chức một hoạt động hôn nhau giữa các đôi vợ chồng, tình nhân nơi công cộng không hẳn là quá mới lạ ở Việt Nam. Năm 2008, tại Đà Lạt cũng đã từng diễn ra một lễ hội hôn nhau với sự tham dự của khoảng gần 60 người. Tuy nhiên, lễ hội hôn nhau tại Hội An vẫn được chú ý vì hai lý do, đầu tiên là số lượng người tham dự ước tính sẽ lên đến hơn 2.000 người, tức là sẽ có hơn 1.000 cặp đồng thời hôn nhau giữa chốn đông người. Và lý do thứ hai, cũng là lý do gây xôn xao nhiều nhất, đây là lần đầu tiên có một lễ hội hôn nhau do chính quyền (Quảng Nam) tổ chức, với một mục tiêu rất cụ thể là tạo dấu ấn độc đáo cho du lịch của tỉnh.
Về mặt pháp luật thì không ai cấm hôn nhau, trừ tại một số địa điểm mang tính chất đặc thù. Tuy nhiên, vấn đề ở đây không phải là pháp luật mà là nét văn hóa truyền thống của Việt Nam. Đối với người dân Việt Nam thì nụ hôn, đặc biệt là nụ hôn của các cặp tình nhân hay thậm chí là vợ chồng, là một vấn đề mang tính chất riêng tư, thường chỉ diễn ra tại những nơi kín đáo hay trong những sự kiện đặc biệt. Việc hôn nơi đông người và có tính chất biểu diễn thường được xem như là phản cảm, không dễ chấp nhận trong đời sống văn hóa Việt. Đã thế, chuyện hôn nhau vốn chỉ của hai người nay lại được biến thành một cuộc tụ tập đông người, với số lượng lên đến con số ngàn…
Tại phương Tây, nụ hôn trai gái không chỉ là biểu tượng của tình yêu mà còn mang nhiều ý nghĩa đặc trưng riêng. Nụ hôn của đôi nam nữ trong tấm ảnh nổi tiếng “Nụ hôn ở Quảng trường Thời Đại” chính là một dạng như vậy. Ngày 15-8-1945, trong lễ ăn mừng kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ 2, chàng lính thủy Mỹ đã ra Quảng trường Thời đại (New York) ôm hôn tất cả mọi cô gái qua đường. Cảnh anh đang ghì chặt, hôn say đắm một nữ y tá không quen biết, đã được ghi lại và trở thành biểu tượng của ngày hòa bình, thật khó thể nói đó là nụ hôn của tình yêu.
Nhưng mỗi quốc gia lại có một nền văn hóa riêng biệt. Ở Việt Nam, chúng ta có rất nhiều bức ảnh chiến tranh nổi tiếng như ảnh bà mẹ ôm đứa con ngày hòa bình, nụ cười Võ Thị Thắng… nhưng trong những bức ảnh thời chiến nổi tiếng hầu như không có bức ảnh nụ hôn nào. Không phải là những chàng trai cô gái Việt Nam trong thời chiến không biết hôn, mà nụ hôn của họ mang đậm nét văn hóa Việt Nam, riêng tư và e ấp, việc đưa lên ảnh nụ hôn của họ không những không mang ý nghĩa tích cực mà lại gây khó xử cho người trong cuộc. Để thể hiện tình yêu trong thời chiến, các nhà nhiếp ảnh Việt Nam dùng ánh mắt thay thế cho nụ hôn.
Với nét truyền thống của Việt Nam, nụ hôn còn là sự trao gửi, kết nối hai cá nhân lại với nhau, nụ hôn mang hướng thiêng liêng hơn. Mà với ý nghĩa như thế, nếu hôn ở một chỗ đông người, trước ánh mắt quan sát của đám đông thì yếu tố tình cảm của nụ hôn cũng chỉ còn rất ít nếu không muốn nói là mang nặng yếu tố “diễn”. Chính vì thế, khi nụ hôn được dùng như một phương tiện quảng bá du lịch, hôn chỉ nhằm tạo tiếng vang cho một sự kiện đã trở thành một vấn đề khó chấp nhận đối với văn hóa Việt Nam.
Một vấn đề nữa là yếu tố độc đáo. Lễ hội hôn nếu chỉ là hôn thì không phải là một lễ hội độc đáo với du khách quốc tế, nhất là khách phương Tây. Điều độc đáo mà du khách chờ đợi ở đây là yếu tố văn hóa Đông phương vốn đặt nặng lễ nghi. Nói một cách thẳng thắn thì với lễ hội hôn nhau, chúng ta đang bắt chước văn hóa ngoại chỉ để tìm sự thỏa mãn cho du khách. Và nếu chúng ta cứ bắt chước kiểu này thì đến một lúc nào đó chúng ta chẳng còn chút nét văn hóa riêng mà chỉ toàn bắt chước. Sau lễ hội hôn nhau sẽ đến lễ hội gì nữa?
Những năm gần đây, cùng với sự hội nhập ngày càng sâu sắc, xuất hiện ngày càng nhiều hoạt động văn hóa ngoại xâm nhập vào cuộc sống. Những Lễ hội Haloween (ma quỉ), Lễ hội Valentine’s Day (Tình nhân), Lễ hội đường phố (Carnival)… đều mang lại những sắc thái mới, nhưng không hẳn tất cả đều phù hợp với văn hóa Việt.
Đón nhận những cái tích cực nhưng cũng cần tỉnh táo loại bỏ những cái không phù hợp, lai căng là trách nhiệm của mọi người. Thế nên, khi chính quyền địa phương chưa đặt nặng sự lựa chọn những hoạt động văn hóa phù hợp, chỉ chạy theo yếu tố độc đáo, kỳ lạ thì nguy cơ là dẫn đến sự lai căng trong văn hóa.
TƯỜNG VÂN