Ngày 15-5, Quốc hội thảo luận tại hội trường về hai dự án: Luật Thuế giá trị gia tăng (sửa đổi - VAT) và Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (sửa đổi - TNDN). Tinh thần chung là các sắc thuế này cần phải tạo thuận lợi cho người sản xuất, kinh doanh, người tiêu dùng, tránh tạo ra sự xáo trộn lớn.
Không nên tính thuế đối với hàng hóa, dịch vụ đầu vào sản xuất nông nghiệp
Theo ĐB Trần Văn Tấn (Tiền Giang), mức thuế suất 5% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ, gồm phân bón, thuốc trừ sâu bệnh, sản xuất phân bón, dịch vụ sản xuất nông nghiệp là không phù hợp vì như vậy nông dân phải gánh thêm khoản thuế VAT, tức là phải chịu thêm một khoản chi phí khi sử dụng các sản phẩm, hàng hóa đầu vào cho sản xuất nông nghiệp. ĐB Nguyễn Văn Bình (Hải Phòng) bổ sung, quy định máy móc thiết bị chuyên dùng cho sản xuất nông nghiệp chịu thuế suất 10% cũng không hợp lý, nên để ở mức 5% nhằm khuyến khích sản xuất, tăng sức cạnh tranh và tăng thu nhập của nông dân.
Với việc bổ sung áp dụng thuế VAT, nông dân sẽ được hoàn thuế.
ĐB Lê Quốc Dung (Thái Bình) đề nghị cần phải đưa sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, hải sản nuôi trồng,... từ diện không chịu thuế VAT sang đối tượng chịu thuế. ĐB này lập luận, bản chất của Luật Thuế VAT là đánh vào người tiêu dùng và thực chất là cách Nhà nước nhờ doanh nghiệp thu trước của người tiêu dùng.
Trong một nền kinh tế những ai đã tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh của xã hội thì đều phải tham gia vào hệ thống thuế VAT để vừa làm nghĩa vụ nộp thuế phần gia tăng của mình, vừa được nhận hoàn thuế VAT cho những hàng hóa, nguyên vật liệu đầu vào.
Nhờ đó, Nhà nước tăng được nguồn thu, người sản xuất giảm được chi đầu vào, khuyến khích người sản xuất đi vào hạch toán kinh doanh, thực hiện đảm bảo chứng từ, hóa đơn kế toán ngày càng đầy đủ, công bằng hơn, tự nguyện hơn.
Vì vậy, nếu không tham gia vào thuế VAT thì những người nông dân, ngư dân tuy không phải “nộp” phần thuế VAT khoảng 10-15% giá trị hàng hóa, nhưng cũng không được hoàn thuế ở phần chi phí đầu vào chiếm khoảng 60-85% giá cả hàng hóa.
ĐB Phạm Thị Loan (Hà Nội) đồng tình và cho rằng, cần phải xem xét đối tượng không nộp thuế VAT, bởi lẽ trong thực tế “đầu ra” của đối tượng này lại là “đầu vào” của đối tượng khác. Như vậy sẽ làm cho công tác quản lý khó khăn và thất thoát một lượng thuế VAT.
Thuế suất chung thuế TNDN 25% là cao hay thấp?
Những nội dung cơ bản được sửa đổi, bổ sung trong dự án Luật thuế TNDN lần này bao gồm đối tượng nộp thuế; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác nhận thu nhập chịu thuế, nơi nộp thuế; mức thuế suất chung và tỷ lệ giới hạn tối đa chi phí quảng cáo, khuyến mại.
ĐB Dương Kim Anh (Trà Vinh), Nguyễn Thị Mỹ Hương (Đà Nẵng) và nhiều ĐB khác đều cho rằng, tuy dự án Luật đã nới rộng tỷ lệ chi phí tối đa cho quảng cáo, khuyến mại lên 15% cho các DN vừa và nhỏ trong thời gian mới thành lập (đối với DN khác là 10%), song quy định này vẫn là “tự đem dây buộc mình” trong thời kỳ các DN VN rất cần củng cố thương hiệu, quảng bá sản phẩm khi chập chững “bước ra biển lớn”.
Về chi phí được trừ khi xác nhận thu nhập chịu thuế, nhiều ĐB hoan nghênh việc dự án Luật bổ sung khoản tiền tài trợ cho giáo dục, nhưng vẫn cho rằng nên đưa thêm vào diện được trừ tất cả những khoản chi tài trợ các chương trình an sinh xã hội, tài trợ vì mục đích nhân đạo và chi cải thiện đời sống người lao động.
ĐB Đặng Ngọc Tùng (TPHCM) phát biểu: “Cần khuyến khích DN chăm lo cải thiện đời sống cho người lao động bằng cách trừ khoản tiền này khi xác nhận thu nhập chịu thuế, bởi vì không phải mọi khoản chi cho NLĐ đều có thể quy định trong Hợp đồng hay thỏa ước LĐ. Trừ chi phí này cho họ, ngân sách có thể hụt một đồng, nhưng nhân dân được hưởng lợi 2-3 đồng”.
Tuy nhiên, vấn đề được tranh luận sôi nổi hơn cả tại nghị trường chiều qua là quy định giảm mức thuế suất chung thuế TNDN từ 28% hiện nay xuống còn 25%. Trong khi ĐB Vũ Hồng Anh (Hà Nội) cho rằng “So với nhiều nước khác, 28% cũng không phải là mức thuế suất cao”, thì ĐB Phương Hữu Việt (Bắc Ninh) đáp lại: “Thuế suất 25% thậm chí còn là cao. Tôi cho rằng nên giảm xuống mức 20%. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia đang có đà phát triển tốt như Trung Quốc hay Nga cho thấy họ đều đi theo xu hướng giảm thuế để khuyến khích DN đầu tư phát triển kinh doanh, từ đó số nộp thuế thực tế có khi còn cao hơn trước”. ĐB dẫn chứng, năm 2003 khi hạ thuế suất chung thuế TNDN từ 32% xuống còn 28%, ai cũng nghĩ là sẽ bị giảm thu ít nhất 3.000 tỷ đồng, nhưng kết quả là tổng thu ngân sách năm 2004 (năm đầu tiên thực hiện giảm thuế) còn cao hơn năm 2003 hơn 3.000 tỷ đồng!
HÀ MY – ANH PHƯƠNG
Bà Nguyễn Thị Hồng Hà, Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội Hà Nội: VIỆT LAN (ghi) ĐB NGUYỄN NGỌC HÒA (TPHCM): Phải tính đầy đủ các phát sinh ĐB VŨ TIẾN LỘC (Thái Bình): Nên giảm thuế suất, thu hẹp diện ưu đãi |