Từ ngày có Đảng (3-2-1930) và đặc biệt sau ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22-12-1944), hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” đã trở thành một biểu tượng đẹp của tính cách Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam, văn hóa Việt Nam. Nhưng có điều, chính những người “Bộ đội Cụ Hồ”, cũng chính là các văn nghệ sĩ, bằng tâm huyết, tài năng đã tạo dựng đỉnh cao của một nền văn hóa – văn hóa cách mạng Việt Nam.
Diễn viên múa Thanh Hà, đoàn văn công Trường Sơn thời chiến tranh. Ảnh: T.L.
Chủ thể - khách thể, tôi - ta
Thời đại Hồ Chí Minh, “Bộ đội Cụ Hồ” là hình tượng nghệ thuật trung tâm cao cả và tác giả của những hình tượng nghệ thuật đó chính là “Bộ đội Cụ Hồ” trực tiếp hay gián tiếp. Có thể nói chưa bao giờ trong lịch sử đánh giặc chống ngoại xâm, người lính cầm súng lại đồng thời là người lính cầm bút, lãnh tụ và người dân, người lính cùng “hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” (Hịch tướng sĩ - Nguyễn Trãi). Đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức nổi tiếng, chuyên nghiệp cùng lên đường ra trận.
Hiện thực của công cuộc kháng chiến phức tạp, phong phú, chính người lính chiến đã có khả năng, ý thức được trách nhiệm để sáng tác nên những tác phẩm đỉnh cao phản ánh hiện thực đó. Ấy là nét đẹp đặc biệt của văn hóa cách mạng, trong đó hình ảnh anh “Bộ đội Cụ Hồ” trở thành nhân vật trung tâm của cuộc kháng chiến.
Nguyễn Đình Thi một trí thức trẻ tài hoa, theo nghề triết học, mang quân hàm đại tá quân đội tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Ngoài những tác phẩm để đời như bài hát Diệt phát xít, Người Hà Nội, Nguyễn Đình Thi có những áng thơ, văn Đất nước, Xung kích, Mặt trận trên cao, Vỡ bờ…
Đại tá - nhà thơ Chính Hữu là học sinh trường Bưởi, Hà Nội, ông tham gia Trung đoàn Thủ đô và suốt đời là “Bộ đội Cụ Hồ” qua 2 cuộc chống Pháp, chống Mỹ. Với một tập thơ “Đầu súng trăng treo”, Chính Hữu là một nhà thơ tạo nên dấu ấn thơ bộ đội khỏe khoắn, mạnh mẽ, giàu biểu cảm, hàm súc.
Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ oanh liệt nối tiếp nhau, đã tạo nên vị thế mới của nước Việt Nam và vị thế của một đội ngũ văn nghệ sĩ cách mạng, văn nghệ sĩ quân đội hùng hậu. Chính họ đã tạo dựng nên một nền văn hóa đỉnh cao và họ cũng là những văn nghệ sĩ đỉnh cao của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam.
2/5 văn nghệ sĩ nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật vốn là “Bộ đội Cụ Hồ”.
15 nhà văn hy sinh tại chiến trường, tên tuổi họ sống mãi bởi những đóng góp lớn lao bằng cuộc đời và sáng tác phẩm. Ấy là: Trần Hữu Trang (1906 - 1960, Tiền Giang), Nam Cao (1917 - 1951, Hà Nam), Trần Đăng (1920 - 1949, Hà Nội), Trần Mai Ninh (1917 - 1947, Thanh Hóa), Thôi Hữu (1914 - 1955, Thanh Hóa), Dương Tử Giang (1918 - 1956, Bến Tre), Lê Vĩnh Hòa (1932 - 1967, Bình Định), Nguyễn Thi (1928 - 1968, Nam Định), Nguyễn Mỹ (1935 - 1971, Phú Yên), Nguyễn Trọng Định (1942 - 1968, Hà Nội), Lê Anh Xuân (1940 - 1968, Bến Tre), Dương Thị Xuân Quý (1941 - 1969, Hưng Yên), Chu Cầm Phong (1940 - 1971, Quảng Nam), Trần Quang Long (1941 - 1968, Hà Nội) và Ngô Kha (1937 - 1973, Thừa Thiên - Huế)…
Văn nghệ sĩ tạo nên những phong cách văn nghệ riêng chính bằng cái “tôi” của mình. Nhưng cái tôi của những chiến sĩ văn nghệ “Bộ đội Cụ Hồ” có nét đẹp riêng. Ấy là cái tôi đã biết hòa lẫn trong cái ta của dân tộc, “Ta vì mọi người”. Nói cách khác là tính hài hòa nhuần nhuyễn của cái riêng trong cái chung.
Nhà thơ Xuân Diệu sau 9 năm kháng chiến chống Pháp nhận thức điều ấy qua tập “Riêng chung”. Quy luật cuộc sống quyết định quy luật tư duy, quy luật tư duy quyết định quy luật nghệ thuật. Chưa bao giờ trong lịch sử văn học nghệ thuật Việt Nam nở rộ một vườn hoa nghệ thuật đẹp, bát ngát hương hoa như nền văn hóa cách mạng Việt Nam.
Một đội ngũ sung sức
Văn Việt Nam cách mạng có Nam Cao, Trần Đăng, Nguyễn Khải, Nguyễn Thi, Lê Khâm (Phan Tứ), Nguyên Ngọc, Hữu Mai, Hồ Phương, Vũ Tú Nam, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Nguyễn Minh Châu, Lưu Trùng Dương, Nguyễn Chí Trung, Xuân Thiều, Nam Hà, Phạm Ngọc Cảnh, Triệu Bôn, Lê Lựu, Chu Lai…
Thơ không thể không nhắc tới Trần Mai Ninh, Chính Hữu, Thâm Tâm, Hoàng Trung Thông, Minh Huệ, Trần Hữu Thung, Tạ Hữu Yên, Hoàng Cầm, Vũ Cao, Quang Dũng, Lưu Quang Vũ, Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Xuân Sách, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, Vương Trọng…
Bao nhiêu tác phẩm âm nhạc đỉnh cao thuộc về Bộ đội Cụ Hồ, với những tên tuổi lớn như Đỗ Nhuận, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Việt, Hoàng Vân, Tô Hải, Trần Hoàn, Nguyễn Đức Toàn, Vũ Trọng Hối, Quang Hải, Hoàng Hiệp, Phan Nhân, Huy Du, Doãn Nho, An Thuyên… Chúng tôi muốn đề cập đến âm nhạc (sáng tác), để chứng minh thêm cho lập luận - bộ đội làm âm nhạc cho bộ đội và cho mọi người.
Bên cạnh là những đóng góp về lý luận phê bình, sân khấu, điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật… rất hùng hậu mặc áo lính.
Ngày nay, chiến tranh đã lùi xa, nhưng những văn nghệ sĩ “Bộ đội Cụ Hồ” vẫn là đội ngũ tin yêu đáng trân trọng của văn nghệ cách mạng trong thời kỳ mới. Đội ngũ đó là xương sống cho một nền văn hóa đã và còn tạo nên nền văn hóa đỉnh cao.
Trong văn học, vẫn còn đó những nhà văn sung sức như Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Cao Duy Thảo, Vương Trọng, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Trí Huân, Thanh Quế, Thái Bá Lợi, Nguyễn Bảo, Trần Văn Tuấn, Văn Lê, Trần Thế Tuyển, Đào Văn Sử, Trần Ninh Hồ, Bảo Ninh, Thái Thăng Long, Phạm Sĩ Sáu… Bên cạnh những nhà văn trẻ nổi lên sau ngày đất nước thống nhất: Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Ngọc Tư, Ngô Khắc Tài…
Chúng tôi muốn nhắc lại nhận xét và cũng không loại trừ, trong tình hình mới, nó đánh đúng vào suy nghĩ của một số văn nghệ sĩ là “Bộ đội Cụ Hồ”, ấy là tác phẩm đề tài chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang còn thiếu cái tôi. Vấn đề này chắc chắn còn được thẩm định. Nhưng điều dễ thấy là do tầm cỡ cuộc cách mạng, kháng chiến quá vĩ đại, cho nên tác phẩm nghệ thuật chưa đáp ứng được nhu cầu và yêu cầu, mới dừng lại ở mức độ phản ánh đường lối chiến tranh mà thiếu đi chất liệu của đời sống chiến tranh, con người chiến tranh?
Vũ Ân Thy