Phát huy vai trò của xã, phường
Thực tế tại nhiều địa phương miền Trung cho thấy, điểm nghẽn của công tác giải phóng mặt bằng không hoàn toàn nằm ở cơ chế, chính sách, mà ở cách tổ chức thực hiện, sự phối hợp giữa các cấp, các ngành và vai trò của người đứng đầu trong từng dự án. Nhiều năm qua, tỉnh Bình Định trước đây (nay là tỉnh Gia Lai) luôn nằm trong nhóm địa phương dẫn đầu cả nước về giải ngân vốn đầu tư công. Theo ông Ngô Tùng Sơn, Giám đốc Trung tâm Phát triển quỹ đất Gia Lai, muốn tháo gỡ điểm nghẽn mặt bằng phải huy động được sức mạnh của cả hệ thống chính trị, từ tỉnh đến cơ sở. Ông Sơn dẫn chứng, dự án đường Nguyễn Văn Linh (phường Pleiku, Gia Lai) dài hơn 2,7km, tổng vốn 260 tỷ đồng nhưng suốt 10 năm vẫn vướng bồi thường, giải phóng mặt bằng. Sau khi sáp nhập tỉnh, UBND tỉnh Gia Lai phân công hai lãnh đạo trực tiếp chỉ đạo, xử lý từng nội dung vướng mắc. Chỉ sau một tháng, toàn bộ 671 hộ dân đồng thuận bàn giao mặt bằng, dự án được khơi thông sau nhiều năm đình trệ.
Cách làm tương tự cũng đang được triển khai tại Quảng Ngãi. Ông Phạm Xuân Vinh, Giám đốc Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Quảng Ngãi, cho biết, sau sáp nhập, Tỉnh ủy và UBND tỉnh xác định công tác giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ ưu tiên để khơi thông các dự án động lực. Địa phương tập trung tháo gỡ các dự án đường ven biển Dung Quất - Sa Huỳnh (giai đoạn 1, 2a, 2b), đường Hoàng Sa - Dốc Sỏi và đường nối cầu Thạch Bích - Tịnh Phong với tổng vốn gần 9.800 tỷ đồng. Phương châm là: bám sát thực địa, phát huy vai trò của chính quyền cơ sở vì “chìa khóa” nằm ở cấp xã, phường. Nhờ đó, công tác giải phóng mặt bằng chuyển biến rõ rệt. Riêng dự án đường Hoàng Sa - Dốc Sỏi, từ năm 2023 đến tháng 6-2025 mới đạt khoảng 28% khối lượng giải phóng mặt bằng, nhưng chỉ trong 6 tháng cuối năm 2025 đã tăng lên khoảng 75%. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là những tồn tại lịch sử và sự phối hợp chưa thực sự đồng bộ giữa các cơ quan. Nếu các đơn vị không cùng vào cuộc với tinh thần trách nhiệm, xem đây là việc chung thì rất khó tháo gỡ.
Đối thoại, giải thích để dân đồng thuận
Nếu bài học đầu tiên là sự quyết liệt của chính quyền thì bài học thứ hai lại đến từ chính người dân. Phần lớn người dân không phản đối các dự án phát triển, điều họ cần là được đối thoại, được lắng nghe và được bảo đảm cuộc sống sau khi thu hồi đất.
Tại TP Đà Nẵng, bà Nguyễn Thị Lý, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Hòa Vang, thông tin mô hình “dân vận khéo trong công tác di dời, giải tỏa” được duy trì nhiều năm qua với phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà”. Khi được chia sẻ, được giải thích đầy đủ, nhiều hộ dân dù còn khó khăn vẫn sẵn sàng bàn giao mặt bằng vì lợi ích chung. Nhờ cách làm này, tại dự án quốc lộ 14B, nhiều hộ dân đã đồng thuận di dời, trong đó gia đình ông Lê Phú Hạnh (thôn Cẩm Toại Trung) tiên phong nhường đất với mong muốn tuyến đường sớm hoàn thành. Còn tại dự án Khu phức hợp du lịch và đô thị nghỉ dưỡng Làng Vân - Đà Nẵng (512ha, tổng vốn gần 44.000 tỷ đồng), cán bộ Chi nhánh Khu vực 5 (Trung tâm Phát triển quỹ đất TP Đà Nẵng) không chỉ làm việc trong giờ hành chính mà còn tổ chức đối thoại vào buổi tối và ngày nghỉ để tạo thuận lợi cho người dân.
Tương tự, ở Hà Tĩnh, dự án đường Xô Viết Nghệ Tĩnh kéo dài về phía Đông, tổng vốn 1.498 tỷ đồng, từng đứng trước nguy cơ chậm tiến độ do vướng mặt bằng. Sau khi chính quyền địa phương, chủ đầu tư và các đoàn thể cùng vào cuộc, những vướng mắc từng bước được tháo gỡ. Không chỉ vận động, các lực lượng còn trực tiếp hỗ trợ người dân tháo dỡ nhà cửa, di dời tài sản để sớm ổn định nơi ở mới. Gia đình bà Đặng Thị Thuận (tổ dân phố 27) có hơn 1.057m² đất bị thu hồi; hai người con cũng bị thu hồi hơn 226m² đất. Sau khi nhận tiền bồi thường, chính quyền địa phương và các đoàn thể hỗ trợ gia đình tháo dỡ nhà cửa để kịp bàn giao mặt bằng. “Rời ngôi nhà đã gắn bó hơn 42 năm, chúng tôi cũng nhiều cảm xúc. Nhưng đây là dự án phục vụ sự phát triển chung nên gia đình đồng thuận. Chỉ mong công trình sớm hoàn thành để góp phần phát triển địa phương”, bà Thuận chia sẻ.
Giải phóng mặt bằng không đơn thuần là việc thu hồi đất hay chi trả tiền bồi thường, đó là quá trình tạo sự đồng thuận xã hội. Muốn khơi thông nguồn lực đầu tư công thì trước hết phải tạo lập niềm tin. Muốn dự án về đích đúng hẹn, không thể chỉ giải phóng mặt bằng mà phải giúp người dân tái thiết cuộc sống sau thu hồi đất. Đó mới là nền tảng bền vững mở ra sự đồng thuận và động lực phát triển lâu dài.
Đồng chí Nguyễn Hồng Diên, Phó Chủ tịch Quốc hội:
Việc sửa đổi Luật Đất đai và các luật liên quan cần được tiếp cận với tư duy thực sự đổi mới, đột phá, chuyển từ “bồi thường tài sản bị thu hồi” sang “tái thiết cuộc sống cho người dân sau thu hồi đất”. Mục tiêu sửa đổi luật là tiếp tục ngăn ngừa thất thoát, lãng phí, gia tăng bất bình đẳng và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Việc hoàn thiện thể chế pháp luật về đất đai phải hướng tới xây dựng nền quản trị hiện đại, đồng bộ, công khai, minh bạch, hiệu quả; xóa bỏ rào cản gia nhập thị trường, giảm can thiệp hành chính và chấm dứt cơ chế “xin - cho” trong tiếp cận đất đai.
TS Nguyễn Đức Kiên, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, nguyên Tổ trưởng Tổ Tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ:
Việc sửa đổi Luật Đất đai cần tập trung tháo gỡ hai vướng mắc lớn nhất là thẩm quyền thu hồi đất và đảm bảo đời sống cho người dân có đất bị thu hồi. Gỡ được 2 vấn đề này thì công tác giải phóng mặt bằng mới có thể tiến hành suôn sẻ. Về thẩm quyền thu hồi đất, cần phân định rõ trường hợp Nhà nước thu hồi và trường hợp nhà đầu tư phải tự thỏa thuận với người dân. Về bảo đảm đời sống sau thu hồi đất, cần nhận thức rất rõ yêu cầu thay đổi tư duy từ “đền bù” sang “đảm bảo cuộc sống”. Một điểm bất hợp lý hiện nay là quá nhấn mạnh và hiểu một cách máy móc về khái niệm “giá thị trường”. Công tác giải phóng mặt bằng không phải là cuộc mua bán hay mặc cả, mà Nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm người dân có nơi ở mới tốt hơn hoặc ít nhất không thấp hơn nơi ở cũ.
TS Trần Văn, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội:
Nguyên tắc “có chỗ ở mới bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ” trong bồi thường, tái định cư hiện vẫn mang tính định tính. Vì vậy, cần lượng hóa bằng bộ chỉ số đánh giá đa chiều trước và sau tái định cư với 4 nhóm tiêu chí cốt lõi, gồm: hạ tầng kỹ thuật (diện tích, chất lượng nhà ở, diện tích sàn bình quân/người, kết cấu nhà); hạ tầng giao thông (chiều rộng đường, khả năng kết nối với trục giao thông chính); tiện ích cơ bản (nước sạch, điện, thoát nước, xử lý rác thải); hạ tầng xã hội và khả năng tiếp cận dịch vụ công (khoảng cách hoặc thời gian đến trường học, cơ sở y tế, chợ, siêu thị, khu vui chơi, công viên). Tiêu chí quan trọng nhất mà người dân quan tâm là sinh kế, thể hiện qua thu nhập sau khi ổn định nơi ở mới, cơ hội việc làm và tỷ lệ chuyển đổi nghề thành công khi mất đất nông nghiệp.
CẨM HÀ ghi